NGHỊ ĐỊNH 103/2026/NĐ-CP: NHIỀU QUY ĐỊNH “VÔ TIỀN KHOÁNG HẬU” VỀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

NGHỊ ĐỊNH 103/2026/NĐ-CP: NHIỀU QUY ĐỊNH “VÔ TIỀN KHOÁNG HẬU” VỀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

2026-04-13 15:32:03 89

Ngày 31/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 103/2026/NĐ-CP quy định về đầu tư ra nước ngoài (“Nghị định 103”) để thay thế cho các quy định có liên quan tại Nghị định 31/2021/NĐ-CP (“Nghị định 31”).

Phù hợp với tinh thần của Luật Đầu tư 2025, Nghị định 103 đưa ra những quy định mang tính “vô tiền khoáng hậu”, thể hiện tinh thần khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài, cụ thể như sau:

1. Cho phép việc triển khai dự án đầu tư mà không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài (“Giấy Chứng Nhận”)

Luật Đầu tư 2020 quy định trên tinh thần mọi dự án đầu tư ra nước ngoài (không phân biệt nguồn vốn và lĩnh vực đầu tư) đều phải được cấp Giấy Chứng Nhận. Luật Đầu tư 2025 quy định thuận lợi hơn theo nguyên tắc cho phép một số dự án đầu tư có quy mô nhỏ hoặc tính chất đặc thù được miễn việc thực hiện thủ tục cấp Giấy Chứng Nhận, bao gồm:

a. Dự án có vốn đầu tư ra nước ngoài nhỏ hơn 7 tỷ đồng

Nghị định 103 quy định dự án có vốn đầu tư ra nước ngoài nhỏ hơn 7 tỷ đồng và không thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện sẽ không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy Chứng Nhận mà chỉ cần thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch ngoại hối tại Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, mức vốn đầu tư 07 tỷ đồng không phải là giá trị lớn, thấp hơn rất nhiều so với kỳ vọng của thị trường và chỉ hợp với các dự án nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ không cần nhiều vốn đầu tư ban đầu.

b. Dự án đầu tư ra nước ngoài gắn với quốc phòng, an ninh triển khai theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước theo quy định.

c. Dự án đầu tư ra nước ngoài của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thuộc danh mục các tập đoàn, tổng công ty nhà nước (8 Tập đoàn, Tổng Công ty ghi nhận tại Phụ lục I Nghị định số 366/2025/NĐ-CP về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp).

d. Dự án đầu tư của doanh nghiệp có quy mô lớn đáp ứng các điều kiện sau:

  • Vốn đầu tư ra nước ngoài nhỏ hơn 1.600 tỷ đồng và không đề xuất áp dụng cơ chế chính sách hỗ trợ đặc biệt;
  • Sử dụng nguồn ngoại tệ tự có trong trường hợp chuyển vốn đầu tư bằng ngoại tệ và không sử dụng nguồn vốn vay để đầu tư ra nước ngoài;
  • Hoạt động kinh doanh có lãi trong 2 năm liên tiếp liền kề trước năm đầu tư. Kết quả hoạt động kinh doanh được xác định theo báo cáo tài chính hợp nhất của tổ chức kinh tế;
  • Đã có ít nhất 2 dự án đầu tư ra nước ngoài có lợi nhuận chuyển về nước.

Tuy không cần thực hiện thủ tục xin cấp Giấy Chứng Nhận nhưng Nhà đầu tư cần lưu ý thực hiện các thủ tục như sau để triển khai việc đầu tư ra nước ngoài:

  • Nhà đầu tư vẫn cần phải kê khai thông tin về dự án đầu tư, bao gồm cả cơ cấu vốn đầu tư (gồm vốn bằng tiền và tài sản) trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư để được cấp mã số khai hồ sơ tự động trước khi thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch ngoại hối theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối. Với quy định này, dù không phải xin cấp phép nhưng có thể hiểu là nhà đầu tư vẫn phải triển khai thủ tục kê khai và được cơ quan cấp phép đầu tư cấp mã số trước khi thực hiện thủ tục tại NHNN.
  • Triển khai thủ tục đăng ký ngoại hối tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Chi tiết thủ tục đăng ký ngoại hối cho các dự án kiểu này hiện vẫn còn phải chờ hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước, nhưng Nghị định 103 cho phép Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể lấy ý kiến các cơ quan liên quan trong quá trình xem xét hồ sơ của nhà đầu tư nếu thấy cần thiết. Việc lấy ý kiến các cơ quan liên quan (theo quy định trên) phụ thuộc nhiều vào quan điểm đánh giá của cơ quan có thẩm quyền; xét ở khía cạnh tích cực, quy định này như một biện pháp phòng ngừa/tránh việc trục lợi từ quy định để thực hiện hành vi không phù hợp với quy định pháp luật (như lợi dụng trường hợp được miễn cấp Giấy Chứng Nhận để chuyển vốn bất hợp pháp ra nước ngoài), nhưng xét ở khía cạnh ngược lại, quy định này có thể làm kéo dài thời gian thực hiện thủ tục, gây khó khăn cho nhà đầu tư.
  • Trường hợp dự án có mức vốn đầu tư ra nước ngoài không thuộc diện cấp Giấy Chứng Nhận, khi điều chỉnh tăng vốn đầu tư dẫn đến dự án thuộc diện cấp Giấy Chứng Nhận thì phải làm thủ tục cấp Giấy Chứng Nhận theo quy định.

2. Giới hạn các trường hợp điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài do thay đổi vốn hoặc dẫn đến thay đổi vốn đầu tư

Ngoài việc kế thừa quy định của Luật Đầu tư 2020 về các trường hợp buộc phải điều chỉnh Giấy Chứng Nhận (như thay đổi nhà đầu tư, thay đổi hình thức đầu tư, thay đổi địa điểm, thay đổi mục tiêu chính…), đối với các trường hợp phải điều chỉnh do thay đổi vốn đầu tư, Nghị định 103 chỉ yêu cầu việc điều chỉnh Giấy Chứng Nhận khi có sự kiện hoặc dẫn đến sự kiện “tăng vốn đầu tư”.

Cụ thể, Nghị định 103 quy định, nhà đầu tư phải triển khai thủ tục điều chỉnh Giấy Chứng Nhận khi “Tăng vốn đầu tư ra nước ngoài” hoặc “sử dụng lợi nhuận đầu tư ở nước ngoài để tăng vốn đầu tư”. Trước đây, Luật Đầu tư 2020 yêu cầu cứ có sự “thay đổi vốn đầu tư” hoặc chỉ cần sử dụng lợi nhuận đầu tư để “tiếp tục góp vốn” khi “chưa góp đủ vốn theo đăng ký” thì nhà đầu tư đều phải thực hiện thủ tục đăng ký điều chỉnh Giấy Chứng Nhận. Quy định mới hướng việc quản lý tới những vấn đề thực chất hơn và tạo điều kiện cho nhà đầu tư sự chủ động trong việc điều hành, sử dụng dòng vốn phù hợp với thực tiễn hoạt động đầu tư.

Ngoài ra, đối với dự án có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 1.600 tỷ đồng trở lên hoặc dự án đề xuất áp dụng cơ chế chính sách hỗ trợ đặc biệt đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, khi thực hiện điều chỉnh dự án thì không phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận lại đối với các trường hợp sau:

  • Thay đổi địa điểm đầu tư trong cùng một quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư;
  • Tăng vốn đầu tư ra nước ngoài lần đầu với mức tăng không quá 10% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài đã được chấp thuận và không làm thay đổi mục tiêu chính của dự án;
  • Sử dụng lợi nhuận thu được từ dự án đầu tư ở nước ngoài để tái đầu tư vào chính dự án đó theo quy định của pháp luật;
  • Giảm vốn đầu tư ra nước ngoài để chuyển vốn về nước;
  • Các trường hợp điều chỉnh khác không làm thay đổi mục tiêu chính, quy mô của dự án hoặc không thuộc trường hợp đề xuất áp dụng cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc biệt.

3. Cho phép phương án đầu tư thành lập tổ chức kinh tế ở nước ngoài bằng hoán đổi cổ phần của tổ chức kinh tế trong nước

Nghị định 103 cho phép nhà đầu tư Việt Nam được dùng cổ phần, phần vốn góp, lợi nhuận của tổ chức kinh tế ở nước ngoài hoặc dự án đầu tư của nhà đầu tư đó tại Việt Nam để thanh toán hoặc hoán đổi cho việc mua cổ phần, phần vốn góp hoặc dự án đầu tư của tổ chức kinh tế ở nước ngoài theo quy định của pháp luật. Như vậy, theo phương án này, sau khi giao dịch hoán đổi được thực hiện, tổ chức kinh tế ở nước ngoài sẽ trở thành công ty sở hữu vốn/ cổ phần của tổ chức kinh tế trong nước, hoàn toàn đi ngược lại với logic thông thường của việc đầu tư ra nước ngoài là tổ chức kinh tế trong nước sẽ nắm giữ vốn/cổ phần của tổ chức kinh tế ở nước ngoài. Chính vì thế, trước đây, các phương án đầu tư kiểu này gần như không được phép thực hiện và/hoặc không có cơ chế để thực hiện.

Tuy nhiên, Nghị định 103 cũng đưa ra các điều kiện, nguyên tắc để triển khai phương án đầu tư kiểu này nhằm giảm thiểu rủi ro, cụ thể như sau:

  • Nhà đầu tư Việt Nam phải thực hiện thủ tục đầu tư ra nước ngoài theo quy định của pháp luật trước khi thực hiện giao dịch hoán đổi;
  • Giao dịch hoán đổi phải có tài liệu xác định giá trị giao dịch theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về thuế, phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, chống chuyển giá và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
  • Trường hợp giao dịch hoán đổi làm phát sinh việc nhà đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp hoặc dự án đầu tư tại Việt Nam thì nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện thủ tục đầu tư tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp và pháp luật có liên quan;
  • Việc thực hiện giao dịch hoán đổi phải tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, cạnh tranh, ngân hàng và pháp luật có liên quan; không được làm phát sinh quan hệ sở hữu, kiểm soát trái quy định của pháp luật hoặc bị lợi dụng để thực hiện hành vi chuyển giá, trốn thuế, rửa tiền và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Nghị định 103 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 03/4/2026./.

Đối với hồ sơ dự án đã nộp trước đây mà chưa được cấp Giấy Chứng Nhận, nếu theo quy định của Nghị định này là thuộc diện không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy Chứng Nhận thì nhà đầu tư không phải tiếp tục triển khai thủ tục cấp nữa.

Trên thực tế, việc kê khai thông tin dự án không thuộc diện cấp Giấy Chứng Nhận đã được tích hợp trên hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư. Về bản chất, việc kê khai thông tin tương tự như kê khai thông tin để cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài như trước đây, và cơ quan có thẩm quyền vẫn xem xét trước khi cấp mã số chính thức cho dự án.

Bình luận: