Ngày 22 tháng 6 năm 2026, Chính phủ chính thức ban hành Nghị định số 220/2026/NĐ-CP nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Chính phủ (“Nghị định 67”) quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng (“Nghị định 220”).
Tại bài viết này, ATA Legal Services cập nhật những thay đổi quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc quản trị rủi ro và tuân thủ pháp lý trong giai đoạn thi công sắp tới, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư và nhà thầu xây dựng.
1. Bổ sung nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm
Nghị định 220 đã bổ sung nghĩa vụ về quy định số tiền bảo hiểm tối thiểu trong hợp đồng và trách nhiệm cập nhật thông tin của bên mua bảo hiểm khi có thay đổi về giá trị công trình xây dựng, cụ thể:
- Số tiền bảo hiểm tối thiểu phải được quy định tại hợp đồng bảo hiểm;
- Trường hợp điều chỉnh giá trị công trình xây dựng dẫn đến thay đổi về số tiền bảo hiểm tối thiểu, bên mua bảo hiểm phải thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày điều chỉnh giá trị hoặc theo thỏa thuận tại Hợp đồng bảo hiểm.
Quy định mới góp phần bảo đảm số tiền bảo hiểm luôn phù hợp với giá trị thực tế của công trình, đồng thời hạn chế nguy cơ thiếu bảo hiểm (under-insurance) và giảm rủi ro phát sinh tranh chấp khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
2. Mở rộng phạm vi loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
Về phạm vi loại trừ bảo hiểm đối với tổn thất do các hiện tượng tự nhiên/vật lý như mục rữa, han gỉ, đóng cặn, Nghị định 220 có sự mở rộng đáng kể so với Nghị định 67, cụ thể:
- Nghị định 67 chỉ áp dụng loại trừ này đối với công trình có giá trị dưới 1.000 tỷ đồng, có thêm điều kiện về công việc lắp đặt.
- Nghị định 220 mở rộng phạm vi loại trừ ra tất cả các công trình xây dựng, không phân biệt giá trị công trình hay các điều kiện kèm theo.
Như vậy, từ ngày 01/07/2026, các trường hợp loại trừ nêu trên được áp dụng thống nhất đối với các công trình thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định mà không còn phụ thuộc vào giá trị công trình hoặc điều kiện áp dụng như trước.
Áp dụng vào thực tiễn, chủ đầu tư và nhà thầu cần rà soát kỹ phạm vi bảo hiểm để có biện pháp quản lý rủi ro phù hợp đối với các tổn thất không thuộc phạm vi được bồi thường
3. Điều chỉnh cơ chế xác định phí bảo hiểm
3.1. Không được giảm phí đối với công trình nằm trong vùng rủi ro thiên tai cao
Nghị định 220 quy định doanh nghiệp bảo hiểm không được áp dụng mức phí thấp hơn tỷ lệ phí quy định đối với:
- Công trình thuộc vùng nguy cơ xảy ra thiên tai cao (do lũ quét, sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ, dòng chảy);
- Doanh nghiệp bảo hiểm có lỗ thuần nghiệp vụ bảo hiểm tài sản trong 3 năm tài chính liền kề.
Quy định này hướng đến việc bảo đảm mức phí bảo hiểm phản ánh đúng mức độ rủi ro của công trình, góp phần tăng cường an toàn tài chính cho doanh nghiệp bảo hiểm.
3.2. Quy định cụ thể cách tính mức phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm bắt buộc đối với nhà máy điện hạt nhân
Nhà máy điện hạt nhân là loại hình công trình có rủi ro cực kỳ lớn, mang tính chất đặc biệt nguy hiểm và đòi hỏi kỹ thuật cao nhất. Nhà nước cho phép áp dụng cơ chế thỏa thuận phí và điều khoản dựa trên thị trường quốc tế (thông qua bằng chứng nhận tái bảo hiểm nước ngoài), thay vì ép vào một biểu phí hay quy tắc cứng nhắc ở trong nước vốn không đủ năng lực gánh vác loại rủi ro này.
3.3. Siết chặt giới hạn điều chỉnh phí bảo hiểm
Về cơ chế điều chỉnh phí bảo hiểm, Nghị định 67 và Nghị định 220 đều cho phép tăng/giảm tối đa 25% so với mức phí cơ bản tùy theo mức độ rủi ro của từng công trình. Tuy nhiên, Nghị định 220 có 02 điểm thay đổi đáng chú ý:
- Bỏ ngoại lệ cho phép vượt giới hạn điều chỉnh 25%: Nghị định 67 cho phép trong trường hợp đặc biệt (khi tiền bồi thường bảo hiểm vượt quá doanh thu phí do lỗi của bên mua bảo hiểm) thì hai bên có thể thỏa thuận mức phí cao hơn mức trần 25%. Nghị định 220 bỏ hoàn toàn ngoại lệ này, theo đó, mức trần 25% trở thành giới hạn áp dụng thống nhất cho mọi trường hợp.
- Bổ sung yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng quy trình đánh giá rủi ro với tiêu chí rõ ràng, được chuyên gia tính toán nội bộ xác nhận và kiểm tra hàng năm. Trước đây, doanh nghiệp bảo hiểm có thể tự quyết định việc tăng giảm phí mà không cần có quy trình chuẩn hóa.
Các quy định mới góp phần chuẩn hóa hoạt động đánh giá rủi ro, tăng tính minh bạch trong việc xác định phí bảo hiểm và bảo đảm sự nhất quán trong quá trình áp dụng.
3.4. Quy định cách tính phí bảo hiểm khi thi công kéo dài
Trường hợp thời gian thi công/thời gian bảo hành công trình bị kéo dài so với quyết định đầu tư (tính tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm), bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm bắt buộc phải thỏa thuận bằng văn bản về phí bảo hiểm áp dụng cho khoảng thời gian đó, căn cứ vào:
- Phí bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tư vấn xây dựng tại thời điểm giao kết (“Hợp đồng TNNN”); và
- Tỷ lệ giữa thời gian bị kéo dài - thời hạn Hợp đồng TNNN tại thời điểm giao kết.
Việc chuẩn hóa công thức tính phí nhằm đảm bảo tính minh bạch, tránh tình trạng doanh nghiệp bảo hiểm tự ý đặt ra mức giá cao hơn trong trường hợp công trình bị kéo dài. Điều này cũng nhằm bảo vệ công trình liên tục, tránh khoảng trống bảo hiểm.
4. Cập nhật mức phí bảo hiểm và mức khấu trừ bảo hiểm bắt buộc công trình
Nghị định 220 cũng cập nhật, sửa đổi, bổ sung các loại hình cơ sở có nguy hiểm về cháy nổ thuộc Phụ lục II về mức phí bảo hiểm, mức khấu trừ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc phù hợp với cách phân loại công trình tại Nghị định 105/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ năm 2024.
Ngoài ra, nội dung tại Phụ lục III về mức phí bảo hiểm, mức khấu trừ bảo hiểm bắt buộc công trình trong thời gian xây dựng được thay thế mới hoàn toàn, trong đó có những điểm mới đáng chú ý như sau:
+ Công trình xây dựng thuộc đối tượng áp dụng: hầu hết đều là các công trình cấp II trở lên, trừ một số loại hình công trình đặc biệt như cảng, bến cảng, công trình thuỷ lợi;
+ Bổ sung công trình đường sắt: đường tàu điện ngầm/Metro với mức phí bảo hiểm đến 5,9 (% theo giá trị công trình xây dựng) cao hơn hẳn so với các loại hình công trình đường sắt khác (ở mức 4,0);
+ Bổ sung mức khấu trừ bảo hiểm công trình trong thời gian xây dựng đối với các trường hợp có giá trị bảo hiểm từ 1.000 tỷ đồng trở lên:
Đơn vị: triệu đồng
|
Giá trị bảo hiểm |
Mức khấu trừ loại “M” |
Mức khấu trừ loại “N” |
||
|
Đối với rủi ro thiên tai |
Đối với rủi ro khác |
Đối với rủi ro thiên tai |
Đối với rủi ro khác |
|
|
Từ 1.000.000 trở lên |
Tối thiểu 700 triệu đồng hoặc 5% giá trị tổn thất, tùy số nào lớn hơn |
Tối thiểu 200 triệu đồng hoặc 5% giá trị tổn thất, tùy số nào lớn hơn |
Tối thiểu 1.000 triệu đồng hoặc 5% giá trị tổn thất, tùy số nào lớn hơn |
Tối thiểu 400 triệu đồng hoặc 5% giá trị tổn thất, tùy số nào lớn hơn |
Theo đó, các doanh nghiệp, chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng cần chủ động rà soát và cập nhật mức phí tương ứng với công trình, loại, cấp công trình của mình để đảm bảo tuân thủ đúng quy định.
Nghị định 220 có hiệu lực thi hành từ 01/7/2026. Các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết trước 01/7/2026 và còn thời hạn, hiệu lực thì được tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận; trường hợp có sửa đổi, bổ sung thì thực hiện theo Nghị định 220.
Bình luận: