NGHỊ ĐỊNH 252/2026/NĐ-CP: 10 ĐIỂM MỚI ĐÁNG CHÚ Ý VỀ QUẢN LÝ THUẾ

NGHỊ ĐỊNH 252/2026/NĐ-CP: 10 ĐIỂM MỚI ĐÁNG CHÚ Ý VỀ QUẢN LÝ THUẾ

2026-07-22 09:26:35 8

Ngày 30/06/2026, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định 252/2026/NĐ-CP (“Nghị định 252”) quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15. Theo đó, Nghị định 252 thay thế và bổ sung nhiều nội dung tại Nghị định 126/2020/NĐ-CP (“Nghị định 126”), qua đó hoàn thiện cơ chế quản lý, tối ưu hóa các thủ tục kê khai, tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho các cá nhân và doanh nghiệp. Cụ thể như sau:

I. Làm rõ cơ chế công khai người nộp thuế vi phạm quy định trên mạng thông tin điện tử

1. Người nộp thuế không giải trình rủi ro hóa đơn theo cảnh báo từ hệ thống sẽ bị công khai thông tin trên trang thông tin điện tử

 So với quy định trước đây tại khoản 1 Điều 29 Nghị định 126, quy định mới tại Điều 4 Nghị định 252 đã điều chỉnh quy định về các trường hợp công khai thông tin người nộp thuế. Trong đó bổ sung hành vi không thực hiện yêu cầu giải trình của cơ quan thuế về rủi ro hóa đơn theo cảnh báo từ hệ thống ứng dụng hóa đơn điện tử của cơ quan thuế. Đây là trường hợp công khai thông tin bắt buộc trên trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế các cấp.

Đối với các hành vi khác, căn cứ vào điều kiện thực tế, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế hoặc cơ quan quản lý thuế nơi quản lý khoản thu ngân sách nhà nước quyết định áp dụng bổ sung một hoặc một số hình thức như: công khai trên phương tiện thông tin đại chúng; niêm yết tại trụ sở cơ quan quản lý thuế; thông qua việc tiếp công dân, họp báo, thông cáo báo chí, hoạt động của người phát ngôn của cơ quan quản lý thuế các cấp theo quy định của pháp luật, các hình thức công khai khác theo các quy định có liên quan...

2. Quá hạn nộp thuế 90 ngày bị công khai thông tin tự động theo định kỳ hàng tháng

Đây là quy định hoàn toàn mới tại điểm c khoản 3 Điều 4 Nghị định 252. Bên cạnh bổ sung quy định về nội dung và hình thức công khai thông tin, Nghị định cũng bổ sung quy định đối với trường hợp quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế và các khoản thu khác, tiền chậm nộp, tiền phạt hoặc hết thời hạn chấp hành các quyết định hành chính về quản lý thuế mà người nộp thuế hoặc người bảo lãnh không tự nguyện chấp hành. Theo đó, Hệ thống thông tin quản lý thuế sẽ tự động công khai thông tin trên trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế các cấp theo định kỳ hàng tháng.

3. Bổ sung cơ chế chấm dứt, cập nhật công khai thông tin

Khoản 4 Điều 4 Nghị định 252 bổ sung quy định cụ thể về cơ chế chấm dứt và cập nhật thông tin đã công khai. Theo đó, khi người nộp thuế đã hoàn thành các nghĩa vụ thuế, Hệ thống thông tin quản lý thuế tự động cập nhật trạng thái người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ.

Đối với trường hợp công khai thông tin người nộp thuế thuộc trường hợp quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế và các khoản thu khác, tiền chậm nộp, tiền phạt hoặc hết thời hạn chấp hành các quyết định hành chính về quản lý thuế mà người nộp thuế hoặc người bảo lãnh không tự nguyện chấp hành, tại thời điểm công khai thông tin kỳ mới, các thông tin đã công khai trước đó đồng thời chấm dứt hiển thị. Trường hợp người nộp thuế đã hoàn thành nghĩa vụ thuế trước khi thông tin được chấm dứt công khai, trên cơ sở cập nhật của Hệ thống thông tin quản lý thuế, trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế các cấp tự động hiển thị bổ sung thông tin về việc người nộp thuế đã hoàn thành nghĩa vụ thuế.

Quy định này vừa bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và uy tín của người nộp thuế sau khi đã khắc phục vi phạm, vừa bảo đảm thông tin công khai trên trang thông tin điện tử của cơ quan thuế luôn phản ánh đúng tình trạng thực tế, hạn chế việc duy trì các thông tin đã không còn giá trị hoặc có thể gây hiểu nhầm cho các tổ chức, cá nhân tra cứu.

4. Bổ sung quy định về bảo mật thông tin người nộp thuế

Theo điểm a khoản 2 Điều 4 Nghị định 252, trường hợp người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, căn cứ dữ liệu quản lý thuế và thông tin do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp, cơ quan thuế được công khai thông tin về chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, cơ quan thuế chỉ được công khai họ và tên và 04 ký tự cuối của số định danh cá nhân (số căn cước công dân hoặc số hộ chiếu); các ký tự còn lại phải được che, mã hóa.

Việc điều chỉnh này không chỉ giảm thiểu rủi ro lộ các dữ liệu nhạy cảm của chủ các doanh nghiệp mà còn bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch trong quá trình xử lý vi phạm hành chính về thuế.

II. Bổ sung thời hạn đăng ký thuế của chi nhánh, văn phòng giao dịch tổ chức tín dụng

Điểm a.1 khoản 3 Điều 6 Nghị định 252 quy định thời hạn đăng ký thuế lần đầu của chi nhánh, văn phòng giao dịch tổ chức tín dụng là 10 ngày làm việc, tính từ ngày khai trương. Đây là nội dung mà Nghị định 126 trước đây chưa đề cập cụ thể, khiến nhiều tổ chức tín dụng lúng túng khi xác định mốc thời gian đăng ký.

III. Bổ sung quy định về trách nhiệm của người nộp thuế trong một số trường hợp

1. Người nộp thuế khi có thay đổi thông tin cá nhân không cần làm thủ tục với cơ quan thuế

Theo quy định hiện hành, khi có thay đổi về thông tin đăng ký thuế, người nộp thuế vẫn phải thực hiện thủ tục thông báo thay đổi thông tin với cơ quan thuế theo quy định.

Tuy nhiên, điểm e.3 khoản 3 Điều 6 Nghị định 252 đã bổ sung quy định, trường hợp cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã kết nối và đồng bộ tự động với cơ sở dữ liệu ngành thuế, người nộp thuế khi thay đổi thông tin về họ và tên, số định danh cá nhân, ngày tháng năm sinh, hộ chiếu thì không phải thực hiện thủ tục thay đổi thông tin với cơ quan thuế trong Hệ thống thông tin quản lý thuế sẽ tự động gửi thông báo cập nhật cho người nộp thuế.

Quy định này góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục cho người nộp thuế khi dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước được kết nối và vận hành đồng bộ.

2. Bổ sung trách nhiệm của người nộp thuế đối với trường hợp bị ra thông báo không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký

Điểm e khoản 1 Điều 7 Nghị định 254 quy định, trường hợp người nộp thuế bị cơ quan thuế thông báo không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, người nộp thuế có trách nhiệm:

- Phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ thuế trong thời gian bị cơ quan thuế thông báo người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký bao gồm cả địa chỉ đăng ký của đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh, chấp hành các thông báo, quyết định của cơ quan quản lý thuế và cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

- Không được thực hiện thủ tục tạm ngừng hoạt động, kinh doanh khi cơ quan thuế đã có thông báo về việc người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và chỉ được thực hiện thủ tục tạm ngừng hoạt động, kinh doanh sau khi hoàn thành thủ tục khôi phục mã số thuế.

Việc không cho phép người nộp thuế thực hiện thủ tục tạm ngừng hoạt động trước khi khôi phục mã số thuế góp phần ngăn ngừa tình trạng lợi dụng việc thay đổi trạng thái pháp lý của doanh nghiệp để né tránh nghĩa vụ thuế hoặc kéo dài việc xử lý vi phạm.

IV. Bỏ quy định tổng thời gian tạm ngừng hoạt động, kinh doanh đối với người nộp thuế là tổ chức

Trước đây, tại điểm c khoản 1 Điều 4 Nghị định 126, trường hợp người nộp thuế là tổ chức thìtổng thời gian tạm ngừng hoạt động, kinh doanh không quá 2 năm đối với 2 lần đăng ký liên tiếp.Tuy nhiên, giờ đây tại Nghị định 252, quy định này đã được bãi bỏ, từ đó từ đó tháo gỡ giới hạn về thời gian tối đa được phép tạm ngừng kinh doanh, đồng thời tăng tính linh hoạt cho doanh nghiệp trong việc chủ động xây dựng kế hoạch tạm ngừng hoạt động phù hợp với nhu cầu thực tế.

V. Rút ngắn thời gian hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh

Điểm c khoản 5 Điều 28 Nghị định 252 quy định ngay khi người nộp thuế đáp ứng điều kiện hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh, cơ quan thuế sẽ ban hành thông báo hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh trên hệ thống thông tin quản lý thuế để gửi cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Trên cơ sở thông báo của cơ quan thuế, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh thực hiện hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh theo quy định. Trong khi trước đây, cơ quan thuế thực hiện việc ban hành thông báo hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh trong thời hạn 24 giờ làm việc kể từ khi người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ thuế.

Bên cạnh rút ngắn thời gian xử lý, Nghị định bổ sung cơ chế bảo đảm quyền lợi của người nộp thuế tại điểm b khoản 5 Điều 28 Nghị định 252. Theo đó, trong trường hợp đã nộp tiền nhưng thông tin chưa được cập nhật trên hệ thống thông tin quản lý thuế. Người nộp thuế có thể gửi thông tin phản hồi kèm bản chụp chứng từ nộp tiền bằng phương thức điện tử thông qua hệ thống thông tin quản lý thuế. Sau khi tiếp nhận, cơ quan thuế sẽ kiểm tra, đối chiếu, cập nhật dữ liệu và ban hành thông báo hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh nếu người nộp thuế đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.

Quy định này tạo điều kiện để người nộp thuế chủ động xử lý các trường hợp chậm cập nhật dữ liệu nộp thuế, hạn chế ảnh hưởng đến việc xuất cảnh do độ trễ trong quá trình đồng bộ thông tin giữa các hệ thống.

VI. Bổ sung thời hạn quyết toán đối với cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong 01 năm dương lịch

Điểm c khoản 5 Điều 10 Nghị định 252 bổ sung quy định: Trường hợp trong 01 năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân của năm đầu tiên chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 04 kể từ ngày cuối cùng của tháng tính đủ 12 tháng liên tục.

Việc bổ sung quy định này giúp xác định rõ thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với kỳ tính thuế của năm đầu tiên, tạo cơ sở để người nộp thuế chủ động thực hiện nghĩa vụ thuế và hạn chế vướng mắc trong việc xác định thời hạn nộp hồ sơ.

VII. Bổ sung 06 trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế, khoản thu khác

So với quy định trước đây tại khoản 3 Điều 7 Nghị định 126 (sửa đổi bởi Nghị định 91/2022/NĐ-CP), quy định mới tại Điều 11 Nghị định 252 tiếp tục kế thừa các trường hợp miễn nộp hồ sơ khai thuế hiện hành và bổ sung thêm 6 trường hợp mới, bao gồm:

Trường hợp 1: Tổ chức, cá nhân là bên Việt Nam khấu trừ, nộp thay thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp của nhà thầu nước ngoài theo quy định của pháp luật thuế và thực hiện khai thuế theo tháng mà trong tháng đó không phát sinh việc khấu trừ thuế.

Trường hợp 2: Người nộp thuế thuộc diện được hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng không phải nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng trong các trường hợp:

- Chủ chương trình, dự án hoặc nhà thầu chính (bao gồm cả văn phòng điều hành của nhà thầu chính tại Việt Nam), tổ chức do phía nhà tài trợ nước ngoài chỉ định việc quản lý chương trình, dự án sử dụng vốn Hỗ trợ Phát triển Chính thức (ODA) không hoàn lại (bao gồm cả văn phòng điều hành của nhà tài trợ hoặc tổ chức quản lý, thực hiện chương trình, dự án do nhà tài trợ chỉ định);

- Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ không hoàn lại, tiền viện trợ nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho chương trình, dự án viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo tại Việt Nam;

- Tổ chức, cá nhân được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo quy định của pháp luật về ngoại giao mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam.

Trường hợp 3: Người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế hoặc hồ sơ khoản thu khác khi cơ quan thuế đã có đủ thông tin từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ quan nhà nước, Hệ thống thông tin quản lý thuế hoặc hồ sơ do cơ quan có thẩm quyền cung cấp để xác định nghĩa vụ tài chính. Trường hợp đề nghị miễn, giảm thuế vẫn phải nộp hồ sơ khai. Danh mục hồ sơ áp dụng được cơ quan thuế công khai trên Hệ thống thông tin quản lý thuế.

Trường hợp 4: Bên Việt Nam phát sinh việc trả thu nhập cho tổ chức, cá nhân nước ngoài từ đầu tư trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam, từ các khoản cho vay đối với Nhà nước, Chính phủ Việt Nam thuộc trường hợp không chịu thuế giá trị gia tăng và miễn thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật thuế thì không phải nộp hồ sơ khai thuế.

Trường hợp 5: Tổ chức thu phí, lệ phí không phải khai phí, lệ phí theo quy định của pháp luật phí, lệ phí thì không phải nộp hồ sơ khai phí, lệ phí.

Trường hợp 6: Tổ chức, cá nhân được miễn thuế tài nguyên không thuộc trường hợp cơ quan thuế thông báo, quyết định miễn, giảm thuế theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì không phải nộp hồ sơ khai thuế tài nguyên.

Việc bổ sung các trường hợp không phải nộp hồ sơ khai thuế, khoản thu khác thể hiện định hướng tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế. Giờ đây, quy định chỉ đặt ra yêu cầu lập hồ sơ kê khai khi có phát sinh nghĩa vụ tài chính thực chất cần quản lý. Cùng với đó, việc đẩy mạnh quy định không phải nộp hồ sơ khi  cơ quan thuế đã có đầy đủ thông tin từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng góp phần giúp các doanh nghiệp khỏi gánh nặng giấy tờ, giảm chi phí tuân thủ, hạn chế việc cung cấp trùng lặp thông tin và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong công tác quản lý thuế.

VIII. Bãi bỏ một số trường hợp ấn định thuế

So với các quy định cụ thể về trường hợp ấn định thuế tại Điều 14 Nghị định 126, Nghị định 252 mới đây đã sửa đổi theo hướng dẫn chiếu áp dụng các trường hợp ấn định thuế theo Luật Quản lý thuế 2025. Theo đó, một số trường hợp trước đây là căn cứ để cơ quan thuế thực hiện việc ấn định thuế đã được bãi bỏ, bao gồm:

- Không chấp hành quyết định kiểm tra thuế trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ký quyết định, trừ trường hợp được hoãn thời gian kiểm tra theo quy định.

- Không chấp hành quyết định thanh tra thuế trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ký quyết định, trừ trường hợp được hoãn thời gian thanh tra theo quy định.

- Có dấu hiệu bỏ trốn hoặc phát tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thuế.

Việc bãi bỏ các trường hợp nêu trên cho thấy phạm vi áp dụng biện pháp ấn định thuế đã được thu hẹp theo hướng chỉ áp dụng đối với các trường hợp có căn cứ trực tiếp liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế. Theo đó, việc ấn định thuế phải được thực hiện dựa trên các căn cứ chứng minh như hồ sơ, sổ sách, chứng từ hoặc việc kê khai không chính xác, thay vì dựa trên các hành vi hoặc dấu hiệu không gắn trực tiếp với việc xác định nghĩa vụ thuế.

IX. Bổ sung về các trường hợp chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế

Điều 65 Nghị định 252 đã bổ sung thêm quy định về các trường hợp không hoặc chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế như sau:

Trường hợp 1: Đối với các khoản tiền thuế nợ đang được khoanh tiền thuế nợ theo quy định:

- Trường hợp thuộc quy định tại điểm a, b, d và đ khoản 1 Điều 20 Luật Quản lý thuế, cơ quan quản lý thuế chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế trong thời gian khoanh tiền thuế nợ, trừ trường hợp cơ quan quản lý thuế đã ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế. Cơ quan quản lý thuế phát hiện người nộp thuế có tài sản, dòng tiền để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thì thực hiện cưỡng chế theo quy định;

- Trường hợp thuộc quy định tại điểm c và điểm e khoản 1 Điều 20 Luật Quản lý thuế thì không áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thời gian khoanh tiền thuế nợ. Trường hợp quyết định cưỡng chế đã được ban hành thì cơ quan quản lý thuế ban hành quyết định chấm dứt hiệu lực của quyết định cưỡng chế.

Trường hợp 2: Chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với người nộp thuế (trừ trường hợp người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký) khi tổng số tiền thuế nợ thuộc trường hợp bị cưỡng chế không vượt quá các mức sau:

- Đối với tổ chức: 3.000.000 đồng;

- Đối với hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân, cá nhân kinh doanh: 1.000.000 đồng;

- Không áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với khoản tiền thuế nợ thuộc trường hợp quy định tại khoản 7 và khoản 8 Điều 48 Luật Quản lý thuế.

X. Quy định rõ việc áp dụng biện pháp cưỡng chế yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản

Đây là điểm mới được Nghị định 252 quy định cụ thể tại Điều 72, theo đó, cơ quan quản lý thuế nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc một trong các điều kiện sau:

- Doanh nghiệp, hợp tác xã không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký quá 03 năm kể từ ngày cơ quan thuế ban hành thông báo người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và người nộp thuế không nộp hồ sơ đề nghị khôi phục mã số thuế hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế; cơ quan quản lý thuế đã thực hiện một trong các biện pháp cưỡng chế quy định tại Điều 66, 68, 69, 70 và 71 Nghị định 252 nhưng không thu hồi được tiền thuế nợ;

- Doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế, cơ quan quản lý thuế đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế theo quy định trong thời gian từ 03 năm trở lên nhưng không thu được tiền thuế nợ.

Bên cạnh đó, nếu trong trường hợp Tòa án có thông báo trả lại đơn yêu cầu hoặc có quyết định không mở thủ tục phá sản theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế thì cơ quan quản lý thuế áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính bằng biện pháp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác, giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề, giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh, đăng ký hoặc yêu cầu chấm dứt xác nhận thông báo, đăng ký hoạt động thương mại điện tử.

Quy định này góp phần hoàn thiện cơ chế xử lý đối với các doanh nghiệp không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật về quản lý thuế và pháp luật về phá sản.

Nghị định 252 đã bổ sung nhiều quy định mới theo hướng cụ thể hóa Luật Quản lý thuế, đồng thời tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và khai thác dữ liệu trong công tác quản lý thuế. Các quy định mới không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của cơ quan thuế mà còn tạo điều kiện để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế thuận lợi, minh bạch và giảm chi phí tuân thủ. Do đó, doanh nghiệp và cá nhân cần chủ động rà soát quy trình quản lý thuế nội bộ để kịp thời cập nhật và tuân thủ các quy định mới của Nghị định.

Nghị định 252 có hiệu lực từ ngày 01/07/2026./.

Bình luận:

Từ khóa:  NghiDinh252

,  

QuanLyThue

,  

LuatThue

,