Ngày 30/6/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 253/2026/NĐ-CP (“Nghị định 253”) quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân (“Luật Thuế TNCN 2025”). Việc Nghị định 253 cụ thể hóa các nội dung quan trọng về thu nhập chịu thuế, thu nhập miễn thuế, các khoản giảm trừ, cũng như nghĩa vụ khấu trừ và quyết toán thuế của người nộp thuế và tổ chức chi trả thu nhập đã tác động trực tiếp tới chính sách lương - phúc lợi, quy trình tính lương và nghĩa vụ khấu trừ của doanh nghiệp ngay từ kỳ tính thuế bắt đầu từ 01/7/2026. Dưới đây, ATA Legal Services sẽ tổng hợp và đánh giá một số điểm thay đổi nổi bật của Nghị định 253 như sau:
1. Mở rộng các thu nhập được miễn thuế
So với quy định cũ, Luật Thuế TNCN 2025 và Nghị định 253 đã sửa đổi các quy định liên quan đến các khoản thu nhập từ tiền lương tiền công được miễn thuế thu nhập cá nhân (“TNCN”), cụ thể:
|
Khoản thu nhập |
Quy định cũ |
Quy định mới |
|
Tiền ăn giữa ca, ăn trưa |
Theo thông lệ, mức trần là 730.000 đồng/tháng. - Chế độ ăn giữa ca/ ăn định lượng được thực hiện theo hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy, quy chế của doanh nghiệp thì không tính thuế TNCN. - Tính vào thu nhập chịu thuế TNCN đối với phần vượt quá quy định. |
Mức miễn thuế tối đa là 1,2 triệu VND/người/tháng. - Tính vào thu nhập chịu thuế TNCN đối với phần vượt quá ngưỡng trên. - Trường hợp tổ chức nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn thì không tính vào thu nhập chịu thuế (không giới hạn mức). |
|
Tiền làm thêm giờ, làm ca đêm |
Miễn thuế TNCN với phần được trả cao hơn giữa tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ so với tiền lương làm việc ban ngày, làm trong giờ. |
Miễn thuế TNCN đối với toàn bộ khoản này. |
|
Tiền trả cho những ngày phép chưa sử dụng |
Không được miễn thuế TNCN |
Miễn thuế TNCN |
|
Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm |
Tính thuế TNCN đối với phần vượt quá so với quy định |
Miễn thuế TNCN đối với toàn bộ khoản này. |
Ngoài ra, các khoản thu nhập/chi khác cũng thuộc diện miễn thuế TNCN, điển hình:
- Thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân là nhân lực công nghệ cao và công nghiệp công nghệ số đủ điều kiện làm việc trong dự án, lĩnh vực ưu tiên: Miễn thuế TNCN trong 05 năm.
- Các khoản chi đám hiếu, hỉ cho người lao động;
- Lợi ích từ tài chính công đoàn không mang tính chất lương;
- Thu nhập từ chuyển nhượng lần đầu tín chỉ các-bon, lãi trái phiếu xanh;
- Thu nhập từ lãi trái phiếu; lãi tiền gửi Đồng Việt Nam, vàng, ngoại tệ tại các tổ chức tín dụng;
- Thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ quỹ mở nắm giữ từ 2 năm;
- Tiền, lợi ích từ tài chính công đoàn không mang tính chất lương;
- Đầu tư vốn vào khởi nghiệp sáng tạo, quỹ đầu tư mạo hiểm.
2. Bổ sung các quy định về thuế đối với bất động sản
2.1. Hướng dẫn chi tiết theo hướng thu hẹp các trường hợp được miễn thuế
Theo Nghị định 253, thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở (“QSDĐ”) và tài sản gắn liền với đất ở duy nhất sẽ được miễn thuế TNCN khi đáp ứng các điều kiện sau:
- Người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở/QSDĐ tại Việt Nam;
- Không áp dụng với chuyển nhượng tài sản hình thành trong tương lai;
- Nếu tại thời điểm chuyển nhượng, cá nhân đã có một nhà ở/QSDĐ mà có thêm tài sản hình thành trong tương lai thì không được áp dụng;
- Trường hợp nhà ở/QSDĐ được sở hữu chung bởi nhiều người thì chỉ miễn cho người đáp ứng tiêu chí duy nhất.
- Trường hợp chỉ chuyển nhượng 1 phần nhà ở/QSDĐ thì không được miễn thuế phần chuyển nhượng đó.
2.2. Ủy quyền chuyển nhượng bất động sản bị tính thuế TNCN như mua bán
Theo Nghị định 253, trường hợp ủy quyền mà người nhận ủy quyền có “đầy đủ nội dung như quyền sở hữu đối với bất động sản” thì phải nộp thuế TNCN như chuyển nhượng bất động sản (2% trên giá chuyển nhượng/bảng giá đất). Như vậy:
- Trường hợp ủy quyền giao toàn quyền cho người khác trong việc ký bán, nhận tiền chuyển nhượng bất động sản: Người ủy quyền nộp thuế TNCN 2 lần (đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản và ủy quyền);
- Trường hợp ủy quyền nộp hồ sơ mà có trả phí: Người nhận ủy quyền phải nộp thêm thuế TNCN từ tiền công, tiền lương.
3. Bổ sung các khoản giảm trừ mới khi tính thuế TNCN
3.1. Làm rõ phạm vi áp dụng về giảm trừ người phụ thuộc:
Nghị định 253 sửa đổi một số tiêu chí xác định người phụ thuộc theo hướng làm rõ điều kiện và phạm vi áp dụng so với quy định cũ, cụ thể như sau:
|
Nhóm đối tượng/quy định |
Quy định cũ |
Quy định mới |
|
Người phụ thuộc là con từ 18 tuổi trở lên |
Đối tượng cần đáp ứng điều kiện: - Bị khuyết tật; - Không có khả năng lao động |
Đáp ứng một trong ba điều kiện sau: - Bị khuyết tật; - Không có khả năng lao động; - Mất năng lực hành vi dân sự. |
|
Người phụ thuộc không nơi nương tựa và người nộp thuế trực tiếp nuôi dưỡng |
Không quy định cụ thể |
Phải đáp ứng điều kiện: - Đang sống cùng người nộp thuế; - Người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng theo pháp luật. |
|
Ngưỡng thu nhập đánh giá điều kiện người phụ thuộc |
- Không có thu nhập, hoặc - Có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không quá 1 triệu đồng. |
- Không có thu nhập, hoặc - Có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không quá 3 triệu đồng. |
|
Người phụ thuộc không có khả năng lao động |
Không quy định cụ thể |
Là người có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên xác định theo quy định pháp luật |
3.2. Bổ sung các khoản giảm trừ mới khi tính thuế
- Theo Nghị định 253, cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho bản thân và người phụ thuộc trong các trường hợp sau:
+ Chi phí khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc danh mục do BHYT chi trả: tổng mức giảm trừ không quá 23 triệu đồng/năm;
+ Chi phí giáo dục - đào tạo tại cơ sở giáo dục đào tạo trong nước: tổng mức giảm trừ không quá 24 triệu đồng/năm.
- Đối với bảo hiểm hưu trí bổ sung, hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ
- Trước đây, nếu người sử dụng lao động mua cho người lao động bảo hiểm nhân thọ (không bao gồm bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện) và không tích lũy về phí bảo hiểm thì không được tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
+ Mức giảm trừ tối đa đối với bảo hiểm hưu trí bổ sung, hưu trí tự nguyện từ 1 triệu đồng/người/tháng (bao gồm cả tiền do người sử dụng lao động đóng và tiền người lao động tự đóng).
- Theo Nghị định 253, trường hợp người lao động tham gia cả bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ thì mức được trừ tối đa 03 triệu đồng/tháng áp dụng trên tổng tiền đóng cho các loại hình này, bao gồm cả số tiền do người sử dụng lao động đóng cho người lao động và cả số tiền do người lao động tự đóng.
4. Thay đổi quy định về kê khai, khấu trừ và quyết toán thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
- Nâng ngưỡng bắt buộc khấu trừ thuế đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng dưới 3 tháng lên mức 5 triệu đồng/tháng:
+ Trường hợp mức chi trả trên 05 triệu đồng/lần: khấu trừ thuế TNCN 10% tại nguồn, áp dụng với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký dưới 3 tháng, bao gồm cả trường hợp người lao động nhận thu nhập sau khi đã nghỉ việc.
Nếu cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng này và ước tính tổng thu nhập chịu thuế chưa đến mức phải nộp thuế (sau khi giảm trừ gia cảnh) thì làm cam kết gửi bên trả thu nhập thì mới được tạm thời không khấu trừ. Cá nhân phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình.
+ Trường hợp mức chi trả dưới 05 triệu đồng/lần: chỉ khấu trừ thuế khi cá nhân có yêu cầu.
+ Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế và nộp cho cơ quan thuế.
- Đơn giản hóa hồ sơ chứng minh khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học: Trước đây, tài liệu chứng minh khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học để được giảm trừ khi tính thuế TNCN bắt buộc phải là chứng từ thu hợp pháp do chính tổ chức, cơ sở, quỹ tiếp nhận cấp.
Theo Nghị định 253, cá nhân chỉ cần cung cấp bản chụp của một trong hai loại chứng từ sau mà không còn bắt buộc phải là chứng từ thu do bên nhận cấp như trước:
(i) Chứng từ thu hợp pháp của tổ chức, cơ sở, quỹ tiếp nhận, hoặc
(ii) Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt qua tổ chức tín dụng.
- Không phải quyết toán phần thu nhập vãng lai dưới 15 triệu đồng/tháng: Cá nhân có thu nhập vãng lai đã được khấu trừ thuế 10% tại nguồn sẽ không phải quyết toán đối với phần thu nhập này nếu tổng thu nhập vãng lai bình quân không vượt quá 15 triệu đồng/tháng.
- Nghĩa vụ khấu trừ, kê khai và nộp thuế TNCN được làm rõ đối với trường hợp tổ chức, cá nhân tại Việt Nam hoàn trả chi phí tiền lương tiền công cho bên nước ngoài. Theo đó, bên Việt Nam có trách nhiệm khấu trừ, khai thay và nộp thuế TNCN theo quy định.
5. Tách riêng mức thuế suất tính theo doanh thu đối với hoạt động cung cấp dịch vụ số
Nghị định 253 về cơ bản giữ nguyên bảng thuế suất tính trên doanh thu đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh, ví dụ: đối với các ngành, nghề phân phối, cung cấp hàng hóa: 0,5%; dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 2%; cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm/xổ số/bán hàng đa cấp: 5%;… Đặc biệt, Nghị định 253 tách riêng đối với hoạt động cung cấp sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số về giải trí, trò chơi điện tử, phim số, ảnh số, nhạc số, quảng cáo số thuế suất thành một nhóm ngành nghề độc lập, với thuế suất là 5%.
Trước những thay đổi quan trọng nêu trên, ATA khuyến nghị các doanh nghiệp cần chủ động cập nhật các quy định pháp luật mới đối với các chính sách về thuế TNCN và các văn bản hướng dẫn thi hành từ các cơ quan nhà nước để kịp thời nắm bắt, điều chỉnh, đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật, tránh các rủi ro pháp lý có thể phát sinh. Đồng thời, các doanh nghiệp cần kịp thời cập nhật hệ thống bảng lương theo các ngưỡng mới; rà soát các văn bản nội bộ như quy chế tài chính, quy chế nội bộ, thỏa ước lao động tập thể đối với các khoản phúc lợi, trợ cấp thôi việc/mất việc làm vượt mức luật định.
Nghị định 253 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Các quy định về thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ ký tính thuế năm 2026, ngoại trừ quy định về tiền ăn giữa ca, ăn trưa được áp dụng từ ngày 01/7/2026.
Bình luận: