Bản tin tuần này sẽ là mở đầu trong chuỗi bài viết chuyên sâu về lĩnh vực Thuế nhằm cập nhật nhanh chóng và giải đáp những vướng mắc pháp lý thiết thực nhất trong quá trình vận hành của doanh nghiệp. Ngày 30/06/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 254/2026/NĐ-CP (“Nghị định 254”) quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử (“Luật Quản lý thuế 2025”) thay thế Nghị định 123/2020/NĐ-CP (“Nghị định 123”). Nghị định 254 là khuôn khổ pháp lý quan trọng để các doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh tuân thủ, thực hiện đúng các quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử. Những nội dung đáng chú ý của Nghị định 254 như sau:
1. Mở rộng các trường hợp không phải sử dụng hoá đơn điện tử
Nghị định 254 quy định cụ thể các trường hợp không phải sử dụng hóa đơn điện tử (Nghị định 123 và Thông tư 32 trước đây chỉ quy định trường hợp không phải xuất hóa đơn đối với hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục sản xuất) bao gồm:
- Nhóm cá nhân, hộ kinh doanh đặc thù (Khoản 1, 2, 3 Điều 7): thu mua hàng hóa/dịch vụ lập bảng kê theo luật thuế TNDN; hộ/cá nhân kinh doanh có thu nhập từ cho thuê bất động sản; cá nhân cung cấp sản phẩm/dịch vụ nội dung số cho tổ chức, cá nhân nước ngoài; và các đại lý (xổ số, bảo hiểm, đa cấp) đã được doanh nghiệp chủ quản khấu trừ thuế tại nguồn.
- Nhóm dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm (Khoản 4 Điều 7): Miễn hóa đơn đối với các khoản phí/thu nhập từ tái bảo hiểm; hoạt động nhận tiền gửi; các giao dịch phát hành chứng chỉ tiền gửi, chứng khoán sơ cấp, giấy tờ có giá; hoạt động bán nợ, giao dịch ngoại tệ và các sản phẩm tài chính phái sinh.
- Nhóm điều chuyển và dịch chuyển tài sản nội bộ (Khoản 5, 6, 7 Điều 7): Không phải xuất hóa đơn khi góp vốn bằng tài sản vào tổ chức kinh tế; điều chuyển tài sản giữa công ty mẹ và các đơn vị hạch toán phụ thuộc (hoặc giữa các đơn vị phụ thuộc với nhau); tài sản điều chuyển khi chia tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình; và tài sản cố định, công cụ cho mượn không thu tiền để phục vụ gia công.
- Nhóm tiêu dùng nội bộ và các khoản thu ngoài bán hàng (Khoản 8 Điều 7): Áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ xuất kho nội bộ hoặc tự cung cấp để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh; các khoản thu về bồi thường bằng tiền (gồm cả bồi thường đất), tiền thưởng, thu đòi người thứ ba trong bảo hiểm, thu hộ/chi hộ cơ quan nhà nước và các khoản thu tài chính khác.
Nhìn chung, các quy định về các trường hợp không sử dụng hóa đơn điện tử mang đến thuận lợi cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; hạn chế phát sinh các công việc không cần thiết cho doanh nghiệp. Cần chú ý rằng dù không phải xuất hóa đơn điện tử, trong quá trình kinh doanh và thực hiện các nghiệp vụ nêu trên doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh vẫn phải thực hiện các quy định khác có liên quan.
2. Việc chưa xuất hoá đơn đối với tiền đặt cọc thực hiện hợp đồng được áp dụng cho tất cả các loại dịch vụ
Về cơ bản, Nghị định 254 kế thừa các quy định của Nghị định 123 về thời điểm xuất hóa đơn đối với bán hàng hóa và xuất khẩu hàng hóa.
Riêng đối với thời điểm lập hóa đơn cung cấp dịch vụ, Nghị định 254 có sự điều chỉnh căn bản so với Nghị định 123, cụ thể:
- Nghị định 123 chỉ cho phép các đơn vị cung cấp dịch vụ trong một số lĩnh vực: Kế toán, kiểm toán, tư vấn tài chính, thuế; thẩm định giá; khảo sát, thiết kế kỹ thuật; tư vấn giám sát; lập dự án đầu tư xây dựng được thu tiền đặt cọc hoặc tạm ứng để đảm bảo thực hiện hợp đồng cung cấp mà không phải lập hóa đơn tại thời điểm thu tiền.
- Trong khi đó, Nghị định 254 quy định về nguyên tắc: mọi đơn vị cung cấp dịch vụ (không bị giới hạn số lượng dịch vụ như trước đây) được thu tiền đặt cọc theo quy định Bộ luật Dân sự để đảm bảo thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ mà không phải lập hóa đơn tại thời điểm thu tiền. Lưu ý, việc thu tiền đặt cọc là để bảo đảm thực hiện Hợp đồng, khác với các hình thức thu tiền trước hoặc trong khi cung cấp dịch vụ. Theo đó, nếu doanh nghiệp dịch vụ quy định việc tạm ứng hoặc thanh toán sớm thì thời điểm xuất hoá đơn vẫn là thời điểm thu tiền.
Ngoài ra, Nghị định 254 cũng bổ sung hướng dẫn cụ thể về thời điểm lập hóa đơn đối với một số dịch vụ mới, dịch vụ chưa được hướng dẫn cụ thể trước đây gồm:
- Dịch vụ tài sản mã hóa, dịch vụ hỗ trợ giao dịch trên sàn giao dịch các-bon,
Dịch vụ hoa tiêu hàng hải, dịch vụ quảng cáo trên các trang báo điện tử, dịch vụ công nghệ số, nền tảng số, dịch vụ công nghệ thông tin (bao gồm dịch vụ trung gian thanh toán sử dụng trên nền tảng viễn thông, công nghệ thông tin, dịch vụ bảo vệ, dịch vụ cung cấp suất ăn công nghiệp, dịch vụ của sở giao dịch hàng hóa, dịch vụ thông tin tín dụng, dịch vụ kinh doanh vận tải hành khách (bằng xe taxi, xe hợp đồng, xe mô tô hai bánh sử dụng phần mềm hỗ trợ kết nối vận tải theo pháp luật về đường bộ) cung cấp dịch vụ cho khách hàng là các doanh nghiệp, tổ chức.Theo đó, đối với các dịch vụ trên, Nghị định 254 quy định thời điểm lập hóa đơn là thời điểm hoàn thành việc đối soát dữ liệu giữa các bên (doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ) nhưng chậm nhất không quá ngày 07 của tháng sau tháng phát sinh việc cung cấp dịch vụ hoặc không quá 07 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ quy ước (Kỳ quy ước để làm căn cứ tính lượng hàng hóa, dịch vụ cung cấp căn cứ thỏa thuận giữa đơn vị bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ với người mua).
3. Bổ sung các trường hợp được lập hoá đơn chậm hơn thời điểm luật định
Nghị định 123 chỉ cho phép lập hóa đơn chậm hơn thời điểm luật định trong trường hợp duy nhất là hệ thống cấp mã của cơ quan thuế gặp sự cố. Nghị định 254 kế thừa nguyên tắc trên, đồng thời, bổ sung hai trường hợp được lập hóa đơn chậm hơn thời điểm luật định gồm:
- Trường hợp thứ nhất: xảy ra sự kiện bất khả kháng gồm chiến tranh, bạo loạn, đình công phải ngừng, nghỉ sản xuất, kinh doanh hoặc rủi ro không thuộc nguyên nhân, trách nhiệm chủ quan của người bán mà người bán hoặc cơ quan thuế không thể thực hiện việc lập, cấp mã hoặc truyền dữ liệu hóa đơn điện tử đúng thời hạ Theo đó, người bán trong trường hợp này được lập hóa đơn trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày sự cố được khắc phục.
- Trường hợp thứ hai: người bán không có phần mềm lập hóa đơn tự động có phát sinh giao dịch bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trong giờ làm việc ban đêm theo quy định của Bộ luật Lao động; trường hợp này thì thời điểm lập hóa đơn chậm nhất là ngày làm việc tiếp theo.
Việc bổ sung hai trường hợp được lập hóa đơn chậm hơn thời điểm luật định đã góp phần tháo gỡ các vướng mắc thực tiễn cho doanh nghiệp.
4. Những trường hợp tổ chức chi trả thu nhập không phải lập chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân
Nghị định 254 cũng kế thừa các quy định của Nghị định 123 về thời điểm lập chứng từ và bổ sung một số hướng dẫn cụ thể hơn nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh:
- Trường hợp cá nhân ủy quyền quyết toán thuế thì tổ chức khấu trừ thuế thu nhập cá nhân không phải lập chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
- Đối với thu nhập của nhà đầu tư cá nhân phát sinh từ hoạt động chuyển nhượng chứng khoán, đầu tư vốn, chuyển nhượng tài sản mã hóa, chuyển nhượng vàng miếng, thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại, thu nhập từ trúng thưởng, thừa kế, quà tặng trong trường hợp khoản thu nhập này đã được tổ chức chi trả hoặc tổ chức khấu trừ thuế thực hiện khấu trừ, nộp thuế thu nhập cá nhân tại nguồn thì tổ chức chi trả hoặc tổ chức khấu trừ thuế không phải lập chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
Nhìn chung, bên cạnh việc kế thừa các quy định của Nghị định 123, Nghị định 254 có bổ sung khá nhiều điểm mới, trong đó nổi bật là những quy định nêu trên, góp phần tháo gỡ và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trong quá trình áp dụng và thực hiện các quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử.
Nghị định 254 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2026./.
Bình luận: