NGHỊ ĐỊNH 349/2026/NĐ-CP: NÂNG NGƯỠNG GIÁ ĐƯỢC ÁP DỤNG CHỈ ĐỊNH THẦU

NGHỊ ĐỊNH 349/2026/NĐ-CP: NÂNG NGƯỠNG GIÁ ĐƯỢC ÁP DỤNG CHỈ ĐỊNH THẦU

2026-09-28 10:20:47 20

Ngày 09/09/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 349/2026/NĐ-CP (“Nghị định 349”) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 214/2025/NĐ-CP (“Nghị định 214”) ngày 04/08/2025 của Chính Phủ quy định chi tiết về một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu Thầu về Lựa chọn nhà thầu (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 165/2026/NĐ-CP ngày 15/05/2026 và Nghị định số 170/2026/NĐ-CP ngày 15/05/2026). Nghị định 349 bổ sung quy định nhằm giải quyết một số tình huống thực tế phát sinh trong hoạt động đấu thầu, cụ thể:

1. Điều chỉnh cơ chế lấy báo giá để xác định giá gói thầu

Nghị định 349 tiếp tục yêu cầu chủ đầu tư phải lấy tối thiểu 01 báo giá của hàng hóa, dịch vụ và phải đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Tuy nhiên, thời hạn tối thiểu để nhà cung cấp gửi báo giá đã được điều chỉnh từ 05 ngày thành 03 ngày làm việc kể từ ngày đăng tải yêu cầu báo giá.

Đáng chú ý, Nghị định 349 bổ sung thêm cơ chế xác định giá trung bình trong trường hợp có nhiều báo giá. Theo đó, nếu có báo giá hoặc hạng mục trong báo giá có giá cao hoặc thấp hơn 30% giá trung bình thì chủ đầu tư có quyền loại trừ các báo giá này để xác định giá trung bình. 

Đối với một số trường hợp mua sắm trong lĩnh vực y tế như thuốc, hoá chất, vật tư xét nghiệm, thiết bị y tế và linh kiện, phụ kiện, vật tư thay thế sử dụng cho thiết bị y tế, Nghị định 349 có cơ chế riêng: thời hạn đăng tải yêu cầu báo giá tối thiểu là 10 ngày và trường hợp có từ 2 báo giá trở lên, Chủ đầu tư có thể lựa chọn báo giá cao nhất phù hợp với khả năng tài chính và yêu cầu chuyên môn.

Quy định mới nhằm tạo cơ sở linh hoạt hơn cho chủ đầu tư trong việc xác định giá gói thầu, đồng thời hạn chế tác động của những báo giá có mức chênh lệch bất thường.

2. “Nâng” ngưỡng giá được phép áp dụng chỉ định thầu

Luật Đấu thầu 2023 cho phép chủ đầu tư được chỉ định thầu đối với một số loại gói thầu có mức giá không cao hơn “ngưỡng” quy định. Để phù hợp với tình hình thực tiễn, Nghị định 349 quy định theo hướng nâng ngưỡng giá gói thầu tối đa mà các chủ đầu tư được phép chỉ định thầu ở mức cao hơn hơn đáng kể (từ 2-3 lần) so với Nghị định 214, cụ thể:

Loại gói thầu

Giá gói thầu được phép chỉ định thầu

Nghị định 349

Nghị định 214

Gói thầu thuộc dự toán mua sắm không hình thành dự án

không quá 01 tỷ đồng

không quá 500 triệu đồng

Gói thầu dịch vụ tư vấn thuộc dự án

không quá 03 tỷ đồng

không quá 800 triệu đồng

Gói thầu dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp thuộc dự án

không quá 05 tỷ đồng

không quá 02 tỷ đồng

Các gói thầu hoặc nội dung mua sắm khác

không quá 100 triệu đồng

không quá 50 triệu đồng

3. Làm rõ và đơn giản hoá quy trình chỉ định thầu thông thường

Nghị định 349 làm rõ quy trình chỉ định thầu thông thường so với Nghị định 214 như sau:

a. Chủ đầu tư không bắt buộc thẩm định hồ sơ yêu cầu; trường hợp có yêu cầu thẩm định thì thực hiện theo quy định liên quan.

b. Trong quá trình đánh giá hồ sơ đề xuất của nhà thầu được chỉ định, chủ đầu tư tiến hành thương thảo về giá bảo đảm giá đề nghị trúng thầu tiết kiệm, hiệu quả kinh tế mà không yêu cầu một tỷ lệ tiết kiệm cố định như quy định tại Nghị định 214. Tuy nhiên, giá đề nghị trúng thầu sau thương thảo vẫn phải đáp ứng các điều kiện theo quy định và không vượt giá gói thầu được phê duyệt.

Trường hợp gói thầu mua sắm hàng hóa hoặc gói thầu hỗn hợp EP, PC, EPC không có đủ dữ liệu để tham chiếu giá theo quy định hoặc khi thấy cần thiết, chủ đầu tư yêu cầu nhà thầu thuyết minh cơ cấu giá của hàng hóa để làm cơ sở thương thảo về giá trúng thầu.

c. Hồ sơ yêu cầu, biên bản mở thầu, báo cáo đánh giá được công khai trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia đồng thời với thời điểm chủ đầu tư đăng tải kết quả lựa chọn nhà thầu.

Ngoài ra, Nghị định 349 cũng bổ sung quy định đối với gói thầu thuộc trường hợp chỉ định thầu theo quy trình thông thường đồng thời thuộc trường hợp chỉ định thầu theo quy trình rút gọn thì chủ đầu tư được lựa chọn để áp dụng theo một trong 2 quy trình.

4. Tăng cường việc quản lý nhà thầu phụ

4.1. Trách nhiệm của các nhà thầu, nhà thầu phụ:

a. Nhà thầu được đề xuất các phần công việc, giá trị phần công việc sử dụng nhà thầu phụ, tên nhà thầu phụ trong hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, việc đề xuất phải bảo đảm không vượt giá trị tối đa dành cho nhà thầu phụ quy định trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu.

Trường hợp tại thời điểm tham dự thầu chưa xác định được tên nhà thầu phụ dự kiến thực hiện thì nhà thầu có thể không nêu tên nhà thầu phụ nhưng phải nêu rõ phần công việc, giá trị phần công việc sử dụng nhà thầu phụ.

b. Đối với nhà thầu phụ đặc biệt thực hiện công việc quan trọng của gói thầu, việc đánh giá năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu phụ đặc biệt được thực hiện theo quy định nêu trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu. Khi sử dụng nhà thầu phụ đặc biệt, nhà thầu chính không bắt buộc phải đáp ứng yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm đối với phần công việc giao cho nhà thầu phụ đặc biệt.

c. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, việc thay thế, bổ sung nhà thầu phụ hoặc thay đổi phần công việc, giá trị công việc sử dụng nhà thầu phụ phải được chủ đầu tư và tư vấn giám sát chấp thuận theo quy định.

d. Nhà thầu chính vẫn phải chịu trách nhiệm toàn diện về số lượng, chất lượng, tiến độ và các nghĩa vụ theo hợp đồng, kể cả đối với phần công việc do nhà thầu phụ thực hiện. Nhà thầu chính có trách nhiệm bảo đảm thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho nhà thầu phụ.

e. Đối với nhà thầu liên danh, từng thành viên liên danh chỉ được sử dụng nhà thầu phụ không vượt quá tỷ lệ phần trăm được tính trên phần công việc mà thành viên đó đảm nhận trong thỏa thuận liên danh, hợp đồng đã ký kết.

f. Nhà thầu được ký hợp đồng để mua nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, vật tư, phụ tùng, máy móc, thiết bị, thuê thiết bị thi công, nhân sự từ các nhà cung cấp, cá nhân để thực hiện gói thầu. Trong trường hợp này, các nhà cung cấp, cá nhân không phải là nhà thầu phụ, phần công việc và giá trị phần công việc này không bị tính vào giá trị công việc sử dụng nhà thầu phụ và không bị coi là vi phạm quy định tại điểm g khoản này.”.

4.2. Trách nhiệm của chủ đầu tư liên quan đến nhà thầu phụ:

a. Chủ đầu tư phải quy định tỷ lệ phần trăm tối đa về giá trị công việc được sử dụng nhà thầu phụ trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu. 

b. Chủ đầu tư cập nhật trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia các thay đổi liên quan đến danh sách, phạm vi công việc và tỷ lệ sử dụng nhà thầu phụ trong quá trình thực hiện hợp đồng.

5. Một số vấn đề liên quan khác

a. Quy định rõ thời hạn gửi kiến nghị về hồ sơ mời thầu: Nghị định 349 yêu cầu nhà thầu, cơ quan, tổ chức gửi đơn kiến nghị về hồ sơ mời thầu đến chủ đầu tư trong thời hạn tối thiểu 03 ngày làm việc trước thời điểm đóng thầu (Nghị định 214 quy định nhà thầu chỉ cần gửi trước thời điểm đóng thầu là được).

b. Bổ sung cơ chế xử lý trường hợp gói thầu chỉ có một nhà thầu tham dự thầu: trường hợp này mà có hồ sơ dự thầu đáp ứng cơ bản yêu cầu của hồ sơ mời thầu nhưng không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật theo quy định của hồ sơ mời thầu đối với hạng mục hàng hóa là vật tư, thiết bị thông thường, thông dụng, sẵn có trên thị trường với tổng giá trị các hạng mục hàng hóa này trong giá gói thầu chiếm tỷ trọng không quá 1% giá gói thầu thì chủ đầu tư xem xét, quyết định cho phép nhà thầu bổ sung, thay thế các hàng hóa đó. Giá của hàng hoá bổ sung, thay thế không được cao hơn đơn giá của hàng hóa đã chào.

c. Bổ sung cơ chế khôi phục hiệu lực hồ sơ dự thầu, bảo đảm dự thầu: Trong trường hợp quá trình đánh giá kéo dài dẫn đến hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất hoặc bảo đảm dự thầu hết hiệu lực, chủ đầu tư có thể yêu cầu nhà thầu khôi phục hiệu lực theo quy định. Trường hợp nhà thầu không chấp thuận hoặc từ chối việc khôi phục hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, bảo đảm dự thầu thì hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất của nhà thầu không được tiếp tục xem xét, đánh giá và không bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật về đấu thầu.

Nghị định 349 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 09/09/2026./.

Bình luận: