Ngày 09/10/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 384/2026/NĐ-CP (“Nghị định 384”) quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước.
Trước đó, các quy định liên quan đến xuất xứ hàng hóa được quy định tại nhiều văn bản pháp luật, như Nghị định số 31/2018/NĐ-CP, Thông tư số 05/2018/TT-BCT về xuất xứ hàng hóa và Nghị định số 43/2017/NĐ-CP về nhãn hàng hóa (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 111/2021/NĐ-CP). Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu điều chỉnh xuất xứ hàng hóa trong hoạt động xuất nhập khẩu và việc ghi nhãn, chưa thiết lập khuôn khổ pháp lý riêng, thống nhất và đầy đủ về xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất, lưu thông trong nước.
Nghị định 384 được ban hành nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý này, đồng thời cụ thể hóa các tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan, tạo cơ sở để doanh nghiệp xác định, công bố và chứng minh xuất xứ hàng hóa theo quy định. Các điểm đáng chú ý của Nghị định 384 bao gồm:
1. Tiêu chí xác định hàng hoá có xuất xứ Việt Nam
Theo Nghị định 384, hàng hóa được ghi nhận có xuất xứ Việt Nam khi thuộc một trong hai trường hợp:
1.1. Có xuất xứ thuần túy Việt Nam:
(i) Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng được trồng và thu hoạch tại Việt Nam.;
(ii) Động vật được sinh ra hoặc nuôi dưỡng tại Việt Nam và sản phẩm từ các động vật này;
(iii) Sản phẩm thu được từ săn bắn, đặt bẫy, đánh bắt, nuôi trồng, thu lượm hoặc săn bắt tại Việt Nam;
(iv) Khoáng sản và chất sản sinh tự nhiên được chiết xuất hoặc lấy ra từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của Việt Nam;
(v) Sản phẩm lấy từ nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của Việt Nam, với điều kiện Việt Nam có quyền khai thác đối với vùng nước, đáy biển và dưới đáy biển theo luật pháp quốc tế;
(vi) Sản phẩm đánh bắt và hải sản khác đánh bắt từ vùng biển cả bằng tàu được đăng ký ở Việt Nam và được phép treo cờ của Việt Nam; Sản phẩm khác được chế biến hoặc được sản xuất ngay trên tàu từ sản phẩm đã đánh bắt nêu trên.
(vii) Vật phẩm thu được trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng ở Việt Nam hiện không còn thực hiện được chức năng ban đầu, không thể sửa chữa hay khôi phục được và chỉ có thể vứt bỏ hoặc dùng làm các nguyên liệu, vật liệu thô, hoặc sử dụng vào mục đích tái chế.
(viii) Hàng hóa thu được hoặc được sản xuất từ các sản phẩm nêu trên.
1.2. Có xuất xứ không thuần túy Việt Nam:
Được xác định xuất xứ theo 1 trong 2 tiêu chí:
(i) Chuyển đổi mã số HS ở cấp độ 04 số giữa nguyên liệu không có xuất xứ và thành phẩm:
Tiêu chí này được xem xét trên cơ sở sự thay đổi mã HS ở cấp độ 04 số của nguyên liệu không có xuất xứ được sử dụng để sản xuất hàng hóa tại Việt Nam. Doanh nghiệp cần đối chiếu mã HS của nguyên liệu đầu vào với mã HS của thành phẩm để đánh giá việc đáp ứng tiêu chí này.
(ii) Đạt hàm lượng giá trị Việt Nam (VVC) tối thiểu 30%.
Hàm lượng VVC được xác định theo một trong hai công thức tính:
- Công thức trực tiếp:
|
VVC = |
Trị giá nguyên liệu có xuất xứ |
x 100% |
|
Giá xuất xưởng |
- Công thức gián tiếp:
|
VVC = |
Giá xuất xưởng - |
Trị giá nguyên liệu không có xuất xứ |
x 100% |
|
Giá xuất xưởng |
|||
Doanh nghiệp phải áp dụng công thức đã chọn trong năm tài chính. Bao bì, vật liệu đóng gói được tính vào VVC nếu là bộ phận cấu thành hàng hóa. Với sản phẩm công nghệ thông tin và công nghệ số, một số chi phí tạo giá trị tại Việt Nam như nghiên cứu, phát triển, thiết kế, lập trình, số hóa, tự động hóa, thử nghiệm kỹ thuật và kiểm thử phần mềm gắn với quy trình tạo sản phẩm được tính vào VVC theo quy định riêng.
2. Những yếu tố không làm phát sinh xuất xứ Việt Nam
2.1. Gia công, chế biến đơn giản không được dùng để xác định xuất xứ Việt Nam
Các hoạt động gia công, chế biến đơn giản là những công đoạn không sử dụng kỹ năng đặc biệt, máy móc, dây chuyền hoặc thiết bị chuyên dụng và không được sử dụng để xác định xuất xứ Việt Nam, bao gồm: bảo quản hàng hóa; lau chùi, làm sạch; thay đổi bao bì, đóng gói; dán nhãn; sàng, phân loại, trộn đơn giản; chia tách hoặc lắp ráp đơn giản; sơ chế ngũ cốc, gạo và đường; mài, cắt đơn giản, là hoặc ép vải; kiểm tra, thử nghiệm đơn giản và giết, mổ động vật…
2.2. Các yếu tố không cấu thành hàng hóa cũng không được tính để xác định xuất xứ Việt Nam
Các yếu tố không cấu thành hàng hóa bao gồm: nhiên liệu và năng lượng; dụng cụ, khuôn rập, khuôn đúc; phụ tùng và vật liệu bảo dưỡng; dầu nhờn, chất bôi trơn và các nguyên liệu vận hành; thiết bị an toàn; thiết bị, dụng cụ, máy móc kiểm tra, thử nghiệm hàng hóa; chất xúc tác, dung môi …. và bất kỳ nguyên liệu nào khác không cấu thành hàng hóa nhưng việc sử dụng nguyên liệu phải được chứng minh là cần thiết trong quá trình sản xuất ra hàng hóa. Các yếu tố này tuy cần thiết và được sử dụng trong quá trình sản xuất, kiểm tra, thử nghiệm, bảo dưỡng nhà xưởng hoặc vận hành thiết bị, nhưng không cấu thành hàng hoá.
3. Doanh nghiệp phải chứng minh về xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa khi được yêu cầu
Nghị định 384 nhấn mạnh trách nhiệm của thương nhân, tổ chức, cá nhân đối với thông tin xuất xứ được công bố và nghĩa vụ chứng minh xuất xứ Việt Nam khi được cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
Theo đó, khi thể hiện xuất xứ Việt Nam trên nhãn hàng hoá hoặc tài liệu, vật phẩm chứa thông tin liên quan đến hàng hoá, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin và lưu giữ hồ sơ, chứng từ chứng minh xuất xứ (bao gồm hoá đơn đầu vào, bảng kê nguyên vật liệu, mô tả quy trình sản xuất và các tài liệu liên quan) để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra và giải trình khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
Nghị định 384 có hiệu lực từ ngày 01/01/2027. Hàng hóa có nhãn thể hiện xuất xứ Việt Nam theo quy định trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực được tiếp tục sử dụng nhãn đó đến khi hàng hóa hết hạn sử dụng.
Bình luận: