Vừa qua, ngày 29/04/2026 và ngày 05/05/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 141/2026/NĐ-CP và Nghị định 144/2026/NĐ-CP nhằm sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến chính sách thuế và điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng ("GTGT") đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh ("HKD") và cá nhân kinh doanh ("CNKD"). Các quy định mới được đánh giá là có tác động đáng kể đến nghĩa vụ thuế, việc áp dụng hoá đơn điện tử cũng như cơ chế xử lý chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong thực tiễn hoạt động kinh doanh.
Bài viết dưới đây sẽ tập trung vào các thay đổi trọng tâm và đáng chú ý tại các Nghị định nêu trên cũng như đưa ra khuyến nghị thực tiễn giúp các doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh nắm bắt kịp thời và lưu ý trong quá trình triển khai áp dụng.
A. NHỮNG THAY ĐỔI ĐÁNG CHÚ Ý
1. Điều chỉnh ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế GTGT và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với HKD, CNKD
Nghị định số 141/2026/NĐ-CP nâng ngưỡng doanh thu không thuộc diện chịu thuế GTGT và không phải nộp thuế TNCN từ 500 triệu đồng/năm lên 01 tỷ đồng/năm, cụ thể:
|
Tiêu chí |
Quy định cũ |
Quy định mới |
|
Doanh thu không thuộc diện chịu thuế GTGT |
500 triệu đồng/năm |
01 tỷ đồng/năm |
|
Doanh thu không chịu thuế TNCN từ kinh doanh |
500 triệu đồng/năm |
01 tỷ đồng/năm |
Nhìn chung, việc nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế đối với hộ và cá nhân kinh doanh là một chính sách điều chỉnh kịp thời và bám sát thực tiễn của Chính phủ sau một khoảng thời gian áp dụng quy định về chính sách thuế. Những thay đổi này đã phản ánh sát hơn thực tế quy mô doanh thu của hộ kinh doanh hiện nay và giảm chi phí tuân thủ thuế cho nhóm kinh doanh quy mô nhỏ từ đó phần nào tháo gỡ gánh nặng tài chính cho các CNKD, HKD.
Cùng với việc nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế, Nghị định số 141/2026/NĐ-CP cũng đã quy định về điều khoản chuyển tiếp nhằm xử lý trường hợp HKD, CNKD đã kê khai và nộp thuế theo quy định cũ nhưng sau khi áp dụng ngưỡng doanh thu mới thì thuộc trường hợp không phải nộp thuế. Theo đó, các khoản tiền thuế đã nộp sẽ được xử lý theo cơ chế bù trừ hoặc hoàn trả theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.
2. Điều chỉnh ngưỡng doanh thu bắt buộc phải áp dụng hóa đơn điện tử đối với HKD, CNKD
Mức doanh thu bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử (HĐĐT) đối với HKD, CNKD thay đổi từ "từ 01 tỷ đồng trở lên" thành "trên 01 tỷ đồng/năm"
|
Tiêu chí |
Quy định cũ |
Quy định mới |
|
Mức doanh thu phải áp dụng hóa đơn điện tử |
01 tỷ đồng/năm |
> 01 tỷ đồng/năm |
Đối với các cơ sở có doanh thu từ 01 tỷ đồng trở xuống, Nhà nước vẫn khuyến khích và cho phép tự nguyện đăng ký sử dụng HĐĐT nếu có nhu cầu và đủ điều kiện.
Các cơ sở mới thành lập hoặc năm trước chưa đạt ngưỡng, nhưng năm nay có doanh thu lũy kế vượt mốc 01 tỷ đồng: bắt buộc phải áp dụng HĐĐT (có mã hoặc từ máy tính tiền) và hoàn thành đăng ký trong vòng 30 ngày kể từ ngày cuối cùng của kỳ tính thuế vượt ngưỡng. Sự thay đổi này đã giúp những HKD, CNKD chạm đúng mốc 1 tỷ có thời gian để chuẩn bị điều kiện hạ tầng kỹ thuật, tổ chức kế toán và làm quen với quy trình vận hành mới, tránh áp lực thời gian trong triển khai các thủ tục hành chính và giảm thiểu lo lắng về nguy cơ bị xử phạt ngay lập tức.
3. Bổ sung cơ chế miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có doanh thu không quá 01 tỷ đồng/năm
Một bước đi đồng bộ hóa đầy tiến bộ: doanh nghiệp có tổng doanh thu năm từ 01 tỷ đồng trở xuống sẽ được miễn thuế TNDN. Căn cứ xét duyệt dựa trên Phụ lục kết quả hoạt động kinh doanh kèm theo tờ khai quyết toán thuế TNDN của năm trước liền kề.
Đối với những doanh nghiệp hoạt động dưới 12 tháng trong năm trước, doanh thu làm căn cứ xét miễn thuế được tính quy đổi bằng tổng doanh thu thực tế chia cho số tháng hoạt động thực tế và nhân với 12 tháng, trong đó các tháng có biến động do thành lập mới, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách đều được tính đủ tháng. Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập trong kỳ tính thuế, nếu dự kiến tổng doanh thu năm không quá 01 tỷ đồng thì không phải tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quý; kết thúc kỳ tính thuế, nếu doanh thu thực tế vượt quá 01 tỷ đồng thì doanh nghiệp thực hiện kê khai, quyết toán bình thường và được miễn tính tiền chậm nộp đối với số thuế này.
Về mặt xử lý chuyển tiếp, doanh nghiệp đã tạm nộp thuế quý I năm 2026 sẽ không phải tạm nộp các quý tiếp theo và được bù trừ hoặc hoàn trả số thuế nộp thừa theo quy định. Đối với kỳ tính thuế năm 2025 kết thúc sau ngày 01 tháng 01 năm 2026, số thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn cho khoảng thời gian thuộc năm 2026 được xác định bằng tổng số thuế phải nộp của năm 2025 chia cho 12 tháng (hoặc số tháng thực tế hoạt động đối với doanh nghiệp thành lập mới năm 2025) và nhân với số tháng của năm 2025 nằm trong năm dương lịch 2026. Tuy nhiên, chính sách miễn thuế này loại trừ, không áp dụng cho công ty con hoặc doanh nghiệp có quan hệ liên kết mà các thành viên trong mối quan hệ liên kết đó không đáp ứng điều kiện miễn thuế.
Sự thay đổi này đã đồng bộ hóa chính sách thuế giữa mô hình doanh nghiệp có quy mô doanh thu siêu nhỏ với khối hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh, tạo ra một môi trường pháp lý bình đẳng. Bằng việc bãi bỏ nghĩa vụ tạm nộp thuế theo quý đối với các doanh nghiệp mới thành lập và ban hành công thức phân bổ chuyển tiếp rõ ràng, chính sách mới đã giúp giảm bớt thủ tục hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp duy trì nguồn vốn lưu động trong giai đoạn đầu hoạt động. Mặt khác, việc quy định chặt chẽ các điều kiện loại trừ đối với nhóm doanh nghiệp có quan hệ liên kết giúp ngăn chặn hiện tượng chia nhỏ quy mô doanh nghiệp nhằm trục lợi chính sách, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và bảo đảm nguồn lực ưu đãi của Nhà nước được phân bổ đến đúng đối tượng cần hỗ trợ theo mục tiêu đề ra.
4. Bổ sung cơ chế khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với khoản thanh toán trả chậm, trả góp
Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 2 Điều 26 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên như sau:
Theo quy định mới, Cơ sở kinh doanh được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào trên cơ sở:
+ Hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản;
+ Hóa đơn giá trị gia tăng hợp pháp; và
+ Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo thời hạn thanh toán quy định tại hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng.
Trường hợp chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Đến thời điểm thanh toán, nếu không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào đã khấu trừ của phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán.
Trường hợp sau khi điều chỉnh giảm, nếu cơ sở kinh doanh có được chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì được kê khai, khấu trừ bổ sung số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có chứng từ vào kỳ tính thuế phát sinh chứng từ thanh toán đó.
So với Nghị định số 181/2025/NĐ-CP, điểm mới cốt lõi của Nghị định số 144/2026/NĐ-CP là bổ sung cơ chế cho phép cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ lại số thuế giá trị gia tăng đầu vào sau khi đã thực hiện điều chỉnh giảm do quá hạn thanh toán, ngay khi bổ sung được chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt hợp lệ. Quy định này giải quyết được vướng mắc về việc mất quyền khấu trừ thuế do chậm thanh toán, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp khi dòng tiền biến động nhưng giao dịch kinh tế là có thật.
B. KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP, HKD, CNKD
Để chủ động áp dụng các chính sách thuế mới theo Nghị định số 141/2026/NĐ-CP và Nghị định số 144/2026/NĐ-CP, các doanh nghiệp, tổ chức, HKD và CNKD cần lưu ý một số vấn đề sau:
1. Đối với HKD, CNKD:
+ Rà soát doanh thu thực tế phát sinh để xác định đúng ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế và nghĩa vụ áp dụng HĐĐT theo quy định mới.
+ Chủ động lập, lưu trữ sổ sách, chứng từ và dữ liệu doanh thu để phục vụ cho việc kiểm tra hoặc đối chiếu của cơ quan thuế.
+ Đối với trường hợp đã kê khai, nộp thuế theo ngưỡng cũ nhưng thuộc diện được áp dụng ngưỡng doanh thu mới, cần rà soát lại và chủ động lập hồ sơ đề nghị cơ quan thuế xử lý bù trừ hoặc hoàn trả số thuế đã nộp thừa theo điều khoản chuyển tiếp.
2. Đối với các doanh nghiệp:
+ Rà soát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của kỳ tính thuế năm trước liền kề để xác định tổng doanh thu theo quy định mới, từ đó làm căn cứ tự xác định điều kiện được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc thực hiện các thủ tục hoàn trả, bù trừ số thuế thu nhập doanh nghiệp đã tạm nộp.
+ Đối với các doanh nghiệp thành lập mới hoặc hoạt động dưới 12 tháng, kế toán cần áp dụng đúng công thức quy đổi doanh thu và phân bổ số thuế được miễn của kỳ tính thuế năm 2025 vắt sang năm 2026 để tránh sai sót khi quyết toán.
+ Kiểm tra cơ cấu sở hữu, quan hệ liên kết và mô hình hoạt động của doanh nghiệp và các công ty con, công ty liên kết trong hệ thống để xác định tính đáp ứng đối với điều kiện loại trừ của chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, tránh rủi ro bị truy thu và tính tiền chậm nộp khi cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra.
+ Thiết lập quy trình kiểm soát chặt chẽ đối với các hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ trả chậm, trả góp có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Bộ phận kế toán cần theo dõi chặt chẽ thời hạn thanh toán theo hợp đồng để thực hiện kê khai điều chỉnh thuế GTGT đầu vào theo đúng thời điểm trong trường hợp chưa đáp ứng điều kiện về chứng từ không dùng tiền mặt hoặc kê khai bổ sung thời điểm phát sinh chứng từ thanh toán hợp lệ để bảo đảm tối ưu quyền lợi của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh cơ quan thuế đang đẩy mạnh số hóa dữ liệu, tăng cường kết nối thông tin hóa đơn điện tử, tài khoản thanh toán và dữ liệu doanh thu thực tế, doanh nghiệp, HKD và CNKD cần chuyển dần từ tư duy “kê khai để đáp ứng thủ tục” sang tư duy “quản trị tuân thủ thuế” như một phần của hoạt động quản trị rủi ro doanh nghiệp.
Do đó, bên cạnh việc cập nhật kịp thời các thay đổi của pháp luật, các doanh nghiệp và chủ thể kinh doanh cũng nên chủ động rà soát quy trình kế toán – thuế nội bộ, hệ thống chứng từ, phương thức thanh toán và cơ cấu vận hành để bảo đảm khả năng thích ứng với các yêu cầu quản lý thuế ngày càng chặt chẽ trong thời gian tới.
Bình luận: