Ngày 09/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 28/2026/NQ-CP (“Nghị quyết 28”) về cơ chế đặc thù cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác khoáng sản than đang còn hiệu lực nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Nghị quyết 28 đưa ra cơ chế đặc thù, rút gọn thủ tục cho phép tổ chức, cá nhân khai thác than vượt không quá 15% công suất ghi trong giấy phép mà không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh giấy phép, đồng thời đặt ra các điều kiện và cơ chế kiểm soát đối với phần sản lượng khai thác tăng thêm. Dưới đây là những điểm mới nổi bật mà các doanh nghiệp cần lưu ý.
1. Doanh nghiệp có được tự động tăng công suất khai thác 15%?
Câu trả lời là: Không.
Theo Nghị quyết 28, tổ chức, cá nhân được phép khai thác vượt không quá 15% công suất quy định trong giấy phép khai thác khoáng sản than mà không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác khoáng sản. Tuy nhiên, không phải điều chỉnh giấy phép khác với được tự động khai thác vượt công suất. Theo đó, doanh nghiệp đáp ứng điều kiện phải hoàn thành thủ tục đăng ký theo Nghị quyết 28 trước khi khai thác vượt công suất.
Việc khai thác vượt công suất 15% chỉ là mức trần, còn tuỳ trường hợp, tổng sản lượng than khai thác, bao gồm cả phần vượt công suất của tổ chức, cá nhân khai thác than không được vượt quá trữ lượng than được phép khai thác và phải được theo dõi, giám sát, báo cáo định kỳ theo quy định.
2. Cứ có giấy phép khai thác than là được áp dụng cơ chế đặc thù?
Câu trả lời là: Không phải.
Tổ chức, cá nhân chỉ được áp dụng cơ chế quy định tại Điều 3 của Nghị quyết này khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Có giấy phép khai thác khoáng sản còn hiệu lực;
- Có đủ năng lực kỹ thuật, đảm bảo thiết bị, công nghệ đáp ứng công suất khai thác tăng thêm;
- Đảm bảo an toàn lao động, an toàn mỏ và bảo vệ môi trường;
- Phần sản lượng than khai thác tăng thêm phải nằm trong phạm vi trữ lượng đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, cấp phép. Sản lượng khoáng sản khai thác vượt chỉ được cung cấp, phục vụ cho sản xuất điện.
Cơ chế của Nghị quyết 28 không chỉ đặt ra giới hạn về công suất, mà còn đồng thời giới hạn về trữ lượng, mục đích sử dụng và điều kiện kỹ thuật - an toàn - môi trường. Doanh nghiệp không chỉ đánh giá khả năng tăng sản lượng mà còn cần đặc biệt lưu ý việc xác định trữ lượng còn lại được phép khai thác, năng lực thiết bị - công nghệ, điều kiện an toàn và môi trường trước khi đăng ký khai thác vượt công suất.
3. Doanh nghiệp cần thực hiện thủ tục, công việc gì để khai thác vượt công suất?
Một trong những điểm thuận lợi đáng chú ý của Nghị quyết 28 là doanh nghiệp không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác khoáng sản khi khai thác vượt không quá 15% công suất. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục đăng ký.
Trước khi thực hiện khai thác vượt công suất, doanh nghiệp phải gửi văn bản đăng ký đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có mỏ và gửi bản sao đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường để biết, theo dõi.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đăng ký, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có mỏ có ý kiến chấp thuận hoặc không chấp thuận nếu không đáp ứng điều kiện và sao gửi bản sao đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường để biết.
Doanh nghiệp cần lưu ý, hồ sơ đăng ký không chỉ mang tính thủ tục mà doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm về các thông tin đã đăng ký. Do đó, trước khi đăng ký, doanh nghiệp không chỉ cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đăng ký, mà còn đồng thời phải kiểm tra để đảm bảo tính phù hợp với thực tế; đồng thời, sau khi đăng ký, doanh nghiệp cần chú trọng công tác lưu trữ hồ sơ, tài liệu chứng minh việc đáp ứng và duy trì điều kiện trong toàn bộ quá trình khai thác vượt công suất sau này.
4. Phần khai thác vượt công suất có được bán cho khách hàng khác không?
Câu trả lời là: Được nhưng chỉ cho các nhà máy sản xuất điện.
Một trong những giới hạn quan trọng nhất của cơ chế đặc thù là phần sản lượng khai thác vượt công suất chỉ được cung cấp, phục vụ cho sản xuất điện. Tại văn bản đăng ký cũng yêu cầu phải xác định địa chỉ nhà máy điện tiêu thụ phần sản lượng khai thác vượt công suất.
Do đó, doanh nghiệp cần kiểm soát riêng phần sản lượng tăng thêm và lưu giữ đầy đủ chứng từ, tài liệu chứng minh mục đích và đối tượng tiêu thụ.
5. Trách nhiệm của doanh nghiệp và rủi ro khi vi phạm?
Việc được áp dụng cơ chế đặc thù không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được miễn hoặc giảm các nghĩa vụ pháp lý khác trong quá trình khai thác. Theo Nghị quyết 28, doanh nghiệp cần lưu ý đến các trách nhiệm sau:
- Báo cáo định kỳ sản lượng khai thác;
- Bảo đảm các yêu cầu về môi trường và an toàn trong quá trình khai thác;
- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, thuế, phí có liên quan;
- Chỉ cung cấp phần sản lượng vượt công suất cho phục vụ sản xuất điện.
Bên cạnh đó, việc thực hiện cơ chế này vẫn chịu sự kiểm tra, giám sát của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng với Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Ngoài ra, Nghị quyết 28 quy định trường hợp vi phạm, tổ chức, cá nhân phải tạm dừng việc nâng công suất và còn có thể bị xem xét thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản và bồi thường thiệt hại trong trường hợp xảy ra vi phạm nghiêm trọng. Do đó, cơ chế 15% không nên được hiểu đơn thuần là một chính sách “nới” công suất. Đây là cơ chế đặc thù đi kèm với yêu cầu kiểm soát và trách nhiệm tuân thủ cao.
Vì vậy, doanh nghiệp nên chủ động xây dựng cơ chế kiểm soát nội bộ, rà soát toàn diện đối với điều kiện khai thác, sản lượng khai thác, hồ sơ kỹ thuật, an toàn môi trường và chứng từ chứng minh mục đích tiêu thụ sản lượng tăng thêm. Những cơ chế này sẽ giúp doanh nghiệp khai thác than vừa tận dụng được triệt để chính sách, đồng thời, vừa kiểm soát và phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro trong quá trình tuân thủ.
Nghị quyết 28/2026/NQ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 09/6/2026 và được áp dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2027. Sau thời hạn này, việc khai thác khoáng sản được thực hiện theo giấy phép khai thác khoáng sản đã được cấp và quy định của pháp luật hiện hành./.
Bình luận: