TOÀ ÁN VẪN THỤ LÝ VÀ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LY HÔN KHI BỊ ĐƠN Ở NƯỚC NGOÀI VÀ NGUYÊN ĐƠN KHÔNG RÕ ĐỊA CHỈ CỦA BỊ ĐƠN

TOÀ ÁN VẪN THỤ LÝ VÀ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LY HÔN KHI BỊ ĐƠN Ở NƯỚC NGOÀI VÀ NGUYÊN ĐƠN KHÔNG RÕ ĐỊA CHỈ CỦA BỊ ĐƠN

2024-05-31 22:03:16 130

Ngày 16/05/2024, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình do Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành (“Nghị quyết 01”). Nghị quyết hướng dẫn một số nội dung tại Luật Hôn nhân và Gia đình cần phải làm rõ dựa trên thực tiễn xét xử các vụ, việc hôn nhân và gia đình, cụ thể:

1. Chồng không được yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai hoặc sinh con, không phân biệt con là của ai

Theo quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình, người chồng không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tính từ ngày vợ sinh con hoặc đang có thai.

Để đáp ứng việc giải quyết vụ án ly hôn phù hợp với thực tiễn, Nghị quyết 01 hướng dẫn cụ thể thêm như sau:

  1. Trường hợp vợ đang có thai, sinh con thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai.
  2. Trường hợp vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu ly hôn mà không phân biệt con đẻ, con nuôi.
  3. Trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì việc xác định quyền yêu cầu giải quyết ly hôn của chồng như sau:
  • Chồng của người mang thai hộ không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi;
  • Chồng của người nhờ mang thai hộ không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc khi người mang thai hộ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

2. Toà án phân chia việc nuôi con sau khi ly hôn theo nguyên tắc chú trọng quyền lợi, nguyện vọng của con cái và ưu tiên giao con cho mẹ khi điều kiện của bố không hơn mẹ

Theo quy định của Luật, trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Nghị quyết 01 hướng dẫn cụ thể như sau:

(i) Các tiêu chí cần phải đánh giá khách quan, toàn diện khi xem xét “quyền lợi về mọi mặt của con” như sau:

  • Điều kiện, khả năng của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, bao gồm cả khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại, bóc lột;
  • Quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, được duy trì mối quan hệ với người cha, mẹ không trực tiếp nuôi;
  • Sự gắn bó, thân thiết của con với cha, mẹ;
  • Sự quan tâm của cha, mẹ đối với con;
  • Bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con;
  • Nguyện vọng của con được ở cùng với anh, chị, em (nếu có) để bảo đảm ổn định tâm lý và tình cảm của con;
  • Nguyện vọng của con được sống chung với cha hoặc mẹ.

(ii) Việc lấy ý kiến của con chưa thành niên từ 07 tuổi trở lên phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:

  • Bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, độ tuổi, mức độ trưởng thành để con có thể bày tỏ đúng và đầy đủ ý kiến của mình;
  • Không lấy ý kiến trước mặt cha, mẹ để tránh gây áp lực tâm lý cho con;
  • Không ép buộc, không gây áp lực, căng thẳng cho con.

(iii) Người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con được xác định là thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bị bệnh nặng khác mà không thể tự chăm sóc bản thân hoặc không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

Ví dụ: Trường hợp người mẹ bị đột quỵ và liệt nửa người, không còn khả năng đi lại thì Tòa án không giao con dưới 36 tháng tuổi cho người mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  • Có thu nhập mỗi tháng thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người mẹ đang cư trú và không có tài sản nào khác để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
  • Người mẹ không có điều kiện về thời gian tối thiểu để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trường hợp điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người cha không tốt hơn điều kiện của người mẹ nêu trên thì Tòa án quyết định giao con cho mẹ trực tiếp nuôi.

3. Mức cấp dưỡng tối thiểu là 1/2 tháng lương tối thiểu vùng

Tiền cấp dưỡng cho con được xác định là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.

Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.

4. Toà vẫn thụ lý đơn xin ly hôn và xét xử vắng mặt khi bị đơn ở nước ngoài và nguyên đơn không rõ địa chỉ của bị đơn

Trong vụ án ly hôn, người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người Việt Nam ở nước ngoài và nguyên đơn chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài thì Tòa án giải quyết như sau:

  1. Trường hợp qua người thân thích của bị đơn có căn cứ xác định họ có liên hệ với người thân thích ở trong nước nhưng người thân thích của họ không cung cấp địa chỉ của bị đơn cho Tòa án, không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Trường hợp Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà người thân thích của họ không cung cấp địa chỉ của bị đơn cho Tòa án, không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì Tòa án tiếp tục giải quyết, xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
  2. Sau khi xét xử, Tòa án gửi cho người thân thích của bị đơn bản sao bản án, quyết định để họ chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của bị đơn và nơi người thân thích của bị đơn cư trú để đương sự có thể thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng.

Nghị quyết 01 có hiệu lực từ ngày 01/07/2024.

Bình luận:

Từ khóa:  01/2024/NQ-HĐTP

,  

ly hôn

,  

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi