Ngày 01/3/2026, Luật Đầu tư 2025 được ban hành và có hiệu lực, trong đó bổ sung nhiều quy định và thủ tục mới nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính và tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh. (ATA Legal Services đã có bài phân tích liên quan đến các điểm mới của Luật Đầu tư 2025, Quý Khách hàng tham khảo tại: LUẬT ĐẦU TƯ 2025: NGÀNH NGHỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN CÓ THỂ KHÔNG CẦN CẤP PHÉP MÀ CHỈ CÔNG BỐ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ HẬU KIỂM).
Sau nhiều ngày chờ đợi, đúng ngày cuối cùng của tháng 3 vừa qua, Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 96/2026/NĐ-CP (“Nghị định 96”) thay thế cho Nghị định 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư 2020 (“Nghị định 31”). Tuy nhiên, nhiều nội dung tại Nghị định 96 chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu và sự chờ đợi của các nhà đầu tư. Dưới đây là một số vấn đề nổi cộm mà theo đánh giá của ATA là Nghị định 96 vẫn chưa giải quyết được và chúng ta vẫn cần chờ thêm những văn bản hướng dẫn để có thể triển khai thực hiện.
1. Về mặt phạm vi điều chỉnh, Nghị định 96 chỉ tập trung điều chỉnh về hoạt động đầu tư tại Việt Nam mà không quy định hoạt động đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài. Trong khi đó, một trong những quy định trọng điểm tại Luật Đầu tư 2025 là cho phép một số trường hợp đầu tư ra nước ngoài mà không cần phải triển khai thủ tục đăng ký cấp phép. Các doanh nghiệp và các nhà đầu tư vẫn rất mong chờ sự hướng dẫn chính thức từ Chính phủ về ngưỡng giá trị đầu tư của dự án thuộc diện được miễn thủ tục cấp phép đầu tư ra nước ngoài và cơ chế triển khai các thủ tục khác có liên quan trong trường hợp đó.
2. Về vấn đề cho phép nhà đầu tư nước ngoài thành lập tổ chức kinh tế trước khi triển khai thủ tục đăng ký đầu tư: đã đề cập nhưng vẫn chưa đủ cơ chế để thực hiện trên thực tế
Luật Đầu tư 2025 quy định nguyên tắc: nhà đầu tư nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế tại Việt Nam trước khi thành lập dự án đầu tư. Có thể nói rằng, cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam rất mong chờ quy định hướng dẫn vấn đề này vì việc cho phép thành lập tổ chức kinh tế trước sẽ giúp các nhà đầu tư nước ngoài thuận lợi hơn trong việc triển khai các thủ tục chuẩn bị đầu tư, trong đó có thủ tục cấp phép.
Tuy nhiên, Nghị định 96 hiện mới chỉ dừng ở bước đề cập, tạo cơ sở nhưng vẫn chưa đủ cơ chế để triển khai thực hiện quy định này trên thực tế. Cụ thể, Nghị định 96 quy định, “Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thành lập tổ chức kinh tế trước…, Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp bao gồm nội dung cam kết đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định pháp luật” và “Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày thành lập…, tổ chức kinh tế phải hoàn thành thủ tục để được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thực hiện dự án đầu tư phù hợp với ngành, nghề kinh doanh… Tổ chức kinh tế này chỉ được thực hiện dự án đầu tư sau khi hoàn thành thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư”.
Trong khi đó, chúng ta biết rằng, hiện nay, các mẫu biểu đăng ký kinh doanh ban hành theo Thông tư số 68/2025/TT-BTC ngày 01/7/2025 đều chưa tích hợp nội dung được nêu tại Nghị định 96 và các cơ quan đăng ký kinh doanh cũng chưa được hướng dẫn cụ thể để xử lý các hồ sơ của trường hợp này. Như vậy, có thể hiểu rằng, để có thể triển khai thủ tục đăng ký thành lập tổ chức kinh tế cho các nhà đầu tư nước ngoài, chúng ta vẫn cần phải chờ thêm hướng dẫn từ phía Chính phủ và/hoặc Bộ Kế hoạch Đầu tư trong thời gian tới.
Theo đó, trong thời gian này, nhà đầu tư nước ngoài vẫn triển khai đầu tư theo trình tự, thủ tục cũ: xin cấp phép đầu tư trước khi thành lập tổ chức kinh tế.
3. Về thủ tục đầu tư đặc biệt – còn nhiều băn khoăn trong triển khai thủ tục:
Luật Đầu tư 2025 lần đầu tiên đưa ra cơ chế triển khai thủ tục đầu tư đặc biệt với việc bỏ qua rất nhiều yêu cầu, thủ tục (về phòng cháy chữa cháy, môi trường, xây dựng…) để áp dụng cho những dự án đầu tư tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và khu chức năng trong khu kinh tế, trừ dự án phải chấp thuận chủ trương đầu tư (những dự án sử dụng đất, dự án trong những lĩnh vực có khả năng ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng (hàng không, điện hạt nhân, bến cảng, sân bay), những dự án áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt….)
Trên cơ sở đó, Nghị định 96 hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền và trình tự, thủ tục triển khai với những điểm đáng lưu ý như sau:
- Thay vì phải nộp hồ sơ để xin cấp phép/chấp thuận về thiết kế, xây dựng, đánh giá tác động môi trường, phòng cháy chữa cháy, nhà đầu tư chỉ cần nộp hồ sơ như bình thường và bổ sung văn bản cam kết đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn, quy chuẩn theo quy định của pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Nghị định 96, văn bản cam kết này vẫn cần phải trình bày sơ bộ các phân tích, đánh giá về sự phù hợp của dự án với các tiêu chuẩn, quy định của pháp luật. Đồng thời, trong phạm vi xem xét hồ sơ của cơ quan cấp phép vẫn có nội dung “đánh giá nội dung cam kết của nhà đầu tư”. Trong khi đó, Nghị định không nói rõ việc đánh giá ở những khía cạnh và mức độ nào, có cần phải chứng minh hoặc kèm theo tài liệu hay chỉ cần trình bày đủ các hạng mục cam kết là được??? Điều này vô hình chung có thể gây ra những cách hiểu và cách làm khác nhau giữa các cơ quan cấp phép.
- Thời hạn cấp phép: theo quy định, trong 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế đánh giá hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Tuy nhiên, Nghị định đề cập đến trường hợp từ chối cấp phép nhưng không quy định cụ thể cơ sở từ chối và số lần từ chối cũng như việc nhà đầu tư có thể nộp lại hồ sơ sau khi bị từ chối hay không?
- Hiện nay, Nghị định 96 có đề cập đến những dự án đầu tư thực hiện đồng thời trong và ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung và khu kinh tế. Tuy nhiên, việc đề cập chỉ nhằm làm rõ thẩm quyền của cơ quan cấp phép còn chưa xác định rõ xem các dự án này có được phép áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt hay không hoặc có thể áp dụng cùng lúc thủ tục thông thường cho phần nằm ngoài và thủ tục đặc biệt cho phần nằm trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung và khu kinh tếhay không?
Như vậy, mặc dù đã được hướng dẫn, nhưng để triển khai thủ tục đầu tư đặc biệt vào thực tiễn, các Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu kinh tế và các nhà đầu tư vẫn còn rất nhiều vấn đề phải chờ hướng dẫn.
4. Cần làm rõ cơ chế hưởng ưu đãi đầu tư đối với những đối tượng hưởng không gắn liền với “dự án đầu tư”
Khác với Luật Đầu tư 2015 quy định các đối tượng hưởng ưu đãi đầu tư gồm cả các dự án và các doanh nghiệp, Điều 14 Luật Đầu tư quy định đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư chỉ bao gồm các “dự án đầu tư” thuộc ngành nghề, địa bàn ưu đãi đầu tư hoặc có quy mô vốn, lao động hoặc tính chất dự án đáp ứng điều kiện và giao Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Tuy nhiên, Nghị định 96 bên cạnh quy định chi tiết về các dự án đầu tư đáp ứng điều kiện để được hưởng ưu đãi đầu tư thì lại đưa ra một số nhóm đối tượng được hưởng ưu đãi là các “doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh” như Doanh nghiệp công nghệ; Trung tâm Đổi mới và Sáng tạo; Chuỗi phân phối sản phẩm của doanh nghiệp vừa và nhỏ; cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ; cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt… Về cơ bản, quy định này là hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển kinh tế tư nhân tại Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Có thể thấy, giữa Luật Đầu tư và Nghị định 96 đang có một khoảng “lệch” về các đối tượng hưởng ưu đãi. Cụ thể, Nghị định 96 đã mở rộng các đối tượng được hưởng ưu đãi mà không quy định rõ những đối tượng này có phải gắn liền với một “dự án đầu tư” đáp ứng quy định theo Luật Đầu tư hay không? Theo quy định, ngoại trừ các dự án thuộc diện phải chấp thuận chủ trương đầu tư và dự án có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp/đơn vị kinh doanh trong nước được triển khai hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc mở rộng phạm vi địa bàn hoạt động mà không cần phải lập và xin cấp phép dự án đầu tư. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều cơ quan thuế và quản lý nhà nước vẫn cho rằng doanh nghiệp/đơn vị kinh doanh phải có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ghi rõ tên, phạm vi của dự án thì mới đáp ứng điều kiện để hưởng ưu đãi đầu tư. Điều này khiến rất nhiều doanh nghiệp/đơn vị kinh doanh bị vướng và gặp khó khăn trong việc hoàn thiện hồ sơ, điều kiện nhằm hưởng ưu đãi theo đúng quy định.
Do vậy, chúng tôi cho rằng, Chính phủ và/hoặc Bộ Tài chính cần phải có văn bản hướng dẫn chi tiết và thống nhất cách hiểu và cách áp dụng cho các địa phương và cơ quan quản lý để bảo đảm quyền lợi cho doanh nghiệp, tổ chức có liên quan.
Bên cạnh một số vấn đề còn chưa rõ ràng và/hoặc còn cần cơ chế để có thể triển khai trên thực tế, chúng tôi vẫn đánh giá cao Nghị định 96 trong việc đưa ra nhiều quy định mang tính tháo gỡ, tạo điều kiện cho nhà đầu tư, cụ thể:
- Trường hợp dự án đầu tư đáp ứng một số điều kiện gia hạn (gồm không thuộc đối tượng không được gia hạn và các điều kiện giao đất, cho thuê đất theo quy định) nhưng chưa đáp ứng điều kiện về việc phù hợp với một trong các quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch thì cơ quan đăng ký đầu tư xem xét gia hạn thời hạn hoạt động của dự án đầu tư theo từng năm cho đến khi có kế hoạch sử dụng đất cấp xã theo quy định của pháp luật về đất đai. Nhà đầu tư chỉ thực hiện thủ tục gia hạn thời hạn hoạt động của dự án cho năm đầu tiên gia hạn và được tự động gia hạn năm tiếp theo cho đến khi có kế hoạch sử dụng đất cấp xã.
- Nghị định 96 đã rút gọn đáng kể thời gian chấp thuận chủ trương đầu tư của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, trong đó:
|
Thời gian thực hiện |
Quy định cũ | Quy định mới |
| Gửi hồ sơ lấy ý kiến | ≤ T + 3 | ≤ T + 2 |
| Cơ quan được lấy ý kiến đưa ra ý kiến | ≤ T + 18 | ≤ T + 9 |
| Lập báo cáo thẩm định |
≤ T + 25 |
≤ T + 14 |
| Xem xét chấp thuận chủ trương đầu tư |
≤ T + 28 |
≤ T + 17 |
(Thời điểm nộp hồ sơ hợp lệ: T)
Tương tự, thời gian chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ số tập trung, khu công nghệ cao, khu kinh tế cũng được rút gọn, cụ thể:
|
Thời gian thực hiện |
Quy định cũ | Quy định mới |
|
Gửi hồ sơ lấy ý kiến |
≤ T + 3 |
≤ T + 2 |
|
Cơ quan được lấy ý kiến đưa ra ý kiến |
≤ T + 18 |
≤ T + 9 |
|
Lập báo cáo thẩm định + Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư |
≤ T + 25 |
≤ T + 17 |
(Thời điểm nộp hồ sơ hợp lệ: T)
- Theo quy định cũ, đối với các dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư, nhà đầu tư phải nộp từ 04 đến 08 bộ hồ sơ khi thực hiện thủ tục tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (trên thực tế, số lượng hồ sơ nhà đầu tư cần chuẩn bị sẽ nhiều hơn do hồ sơ phải lấy ý kiến của nhiều cơ quan, đơn vị chuyên môn). Trong khi đó, Nghị định 96 cho phép nhà đầu tư chỉ cần nộp bản điện tử có chữ ký số hoặc khi nộp bản điện tử không có chữ ký số thì chỉ cần kèm 01 bộ hồ sơ giấy. Quy định này sẽ giúp các nhà đầu tư tiết kiệm đáng kể chi phí in ấn, chuẩn bị tài liệu và hỗ trợ việc thực hiện thủ tục hành chính được thông suốt.
- Nghị định 96 quy định rõ ràng: báo cáo tài chính của nhà đầu tư trong bộ hồ sơ thực hiện thủ tục đầu tư không bắt buộc phải kiểm toán, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế việc cơ quan cấp phép tự đặt ra yêu cầu cao hơn so với quy định của pháp luật. Theođó, nhà đầu tư chỉ phải nộp báo cáo tài chính kiểm toán nếu thuộc các trường hợp bắt buộc theo quy định pháp luật chuyên ngành.
Nghị định 96 có hiệu lực thi hành từ ngày 31/3/2026.
Bình luận: